CÔNG ĐỨC PHÓNG SANH
CÔNG ĐỨC PHÓNG SANH
- Trong vô số những
pháp môn phương
tiện mà đức Phật đã từng
chỉ dạy, chỉ có
phương pháp phóng sinh
là dễ thực hành nhất
mà có thể sớm mang lại
hiệu quả nhất.
PHẦN I.
CÔNG ĐỨC
PHÓNG SINH
LỜI DẪN
Kinh Phạm
Võng dạy rằng “Người Phật tử nếu lấy tâm từ mà làm việc phóng sinh thì thấy tất
cả người nam đều là cha mình, tất cả người nữ đều là mẹ mình. Vì mình trải qua
nhiều đời đều do đó mà sinh ra, nên chúng sinh trong sáu đường đều là cha mẹ của
mình. Nếu giết hại sinh mạng để ăn thịt tức là tự giết cha mẹ mình, cũng là giết
thân cũ của mình. Tất cả đất, nước là thân trước của mình. Tất cả gió lửa là bản
thể của mình. Cho nên, thường thực hành phóng sinh thì đời đời sinh ra thường gặp
Chánh pháp. Khuyên dạy người làm việc phóng sinh, nếu thấy người đời giết hại
súc vật, nên tìm phương tiện để giải cứu, khiến cho chúng được thoát khổ nạn.”[1]
Đức Phật có
trí tuệ vô thượng, trong kinh Phạm Võng đã sớm có lời ân cần khẩn thiết khuyên
răn chúng ta. Giới sát phóng sinh thì tiêu trừ nghiệp chướng, lại trưởng dưỡng
được tâm từ bi. Đức Phật còn nói rõ rằng: “Chúng sinh trong sáu đường đều là
cha mẹ ta, cứu vật sống được tức là cứu được cha mẹ ta.”
Mỗi một
chúng sinh đều là anh em, thân quyến, cha mẹ, con cái từ nhiều kiếp đến nay của
chúng ta. Nếu đem nhãn quan của mình mở rộng đến chân tướng vô hạn của không
gian, thời gian, của vũ trụ, đối diện với thân quyến của mình lúc bị bắt, bị nhốt,
bị giết, bị ăn thịt... vẫn không cố gắng tận tâm mà rụt rè do dự; không gấp rút
mà giải cứu họ, thật chẳng bằng loài cầm thú.
Tuy nhiên,
chính như Đại sư Ấn Quang,[2] tổ thứ 13 của Liên tông có nói: “Việc giới sát
phóng sinh tuy cạn cợt dễ thấy, mà cái lý của giới sát phóng sinh thì sâu mà
khó hiểu.” Trong thời mạt pháp mờ mịt như ngày nay, Chánh pháp suy vi, ma đạo
thịnh hành, tánh người ngu tối thấp hèn, chúng sinh nghiệp chướng sâu nặng, bị
vô minh che lấp, không có trí tuệ để chọn lấy pháp môn thù thắng, đơn giản dễ
thực hành này; không có phước báu để tiêu trừ sát nghiệp vô tận nhiều đời tạo
nên. Vì vậy nên đề xướng việc phóng sinh ngày nay thật là khó khăn, thường gặp
phải sự cản trở phê phán rất nhiều. Thường thường vừa gặp phải sự phê bình, thì
có nhiều cư sĩ phóng sinh đã mất hẳn niềm tin, sinh lòng thối chuyển, tiếp đó
thì bỏ đi cơ hội tiêu trừ nghiệp chướng.
Khó làm mà
làm được mới đáng quý! Trong thời mạt pháp hôm nay, có một vị không sợ bị chê
cười, phỉ báng, dị nghị; bất kể sự phê bình cản trở khó khăn, đối với việc
phóng sinh vẫn cật lực đề xướng. Đó là Lão Pháp sư Viên Nhân. Lão Pháp sư đối với
cư sĩ đến thỉnh pháp đều khuyến khích: “Phải hết lòng niệm Phật, lấy giới làm
thầy.” Ngoài ra đối với việc giới sát phóng sinh đặc biệt nhấn mạnh, chú trọng.
Lão Pháp sư thường hay khuyên răn chúng ta: “Phóng sinh tức là trả nợ, trả vô số
nợ sát sinh từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay. Người đời nay nhiều bệnh tật đau
khổ, đều là do thiếu món nợ sát sinh từ kiếp trước mà có. Trả nợ sát sinh, chỉ
có phương pháp hay nhất là phóng sinh. Cứu mạng kẻ khác cũng như cứu mạng mình,
tức là trả món nợ sát sinh trước kia đã thiếu.”
Lão Pháp sư
Viên Nhân dạy: “Nhân quả báo ứng như bóng theo hình. Sát sinh tự có ác báo của
sát sinh. Phóng sinh tự có thiện báo của phóng sinh. Đừng nên để ý đến sự phê
bình, hủy báng của kẻ khác. Chúng ta thực hành thiện nghiệp của mình, kẻ khác tạo
ác nghiệp của chính họ. Mai sau quả báo hiện tiền, thiện ác nhân quả báo ứng
tuyệt đối không bao giờ sai được.”
Dưới sự chỉ
dạy của Lão Pháp sư, những cư sĩ phóng sinh chẳng những tiêu trừ được túc nghiệp
mà trong quá trình phóng sinh lại càng nuôi dưỡng được tấm lòng từ bi, thể hội
được chân lý: Vạn vật chúng sinh bình đẳng nhất như, đều có đầy đủ tánh Phật, đều
có thể thành Phật. Sự chuyển biến của loại tâm từ bi này chẳng phải hạng người
chỉ biết phê phán, chỉ trích kia có thể lãnh hội được trong muôn một.
Trong nghĩa
cử cao đẹp của việc phóng sinh, bao nhiêu những chứng bệnh ung thư, ác tật đều
tiêu mất trong vô hình. Bao nhiêu sự kiện cảm ứng nhiệm mầu thật chứng, từ miệng
các cư sĩ thường xuyên kể lại. Bao nhiêu hình ảnh của loài vật cảm ơn thị hiện
trước mắt. Quyển sách Công đức phóng sinh này hy vọng có thể khiến cho càng nhiều
người hiểu rõ được sự thù thắng của việc phóng sinh, từ đó mà tự mình cố gắng
làm công việc từ bi phóng sinh. Cũng hy vọng khiến cho những người đối với việc
phóng sinh có sự nghi ngờ và phê bình, qua sự giảng giải trong sách này có thể
cải chính một số thiên kiến của chính mình, không cản trở kẻ khác phóng sinh nữa;
lại tiến thêm một bước để bỏ ác làm lành, rộng khuyên người đời phóng sinh.
Qua lời dạy
của Lão Pháp sư Viên Nhân, mong sao người nghe có thể một truyền ra mười, mười
truyền ra trăm ngàn... khiến cho người người đều khởi tâm từ bi, đều thực hiện
việc phóng sinh. Nhờ đó mà phát triển việc giới sát, ăn chay, khiến cho mọi sự
tàn bạo trong xã hội được tiêu trừ, tuần hoàn tăng trưởng, đất nước an lành,
nhân dân thịnh vượng, vạn vật muôn loài trong trời đất đều được vui thú hồn
nhiên, hưởng trọn tuổi đời.
CHUƠNG I:
PHÓNG SINH LÀ GÌ?
Thế nào gọi
là phóng sinh? Phóng sinh tức là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống
đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống
trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức
là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống.
Luận Đại Trí
độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội sát sinh là nặng nhất. Trong tất cả
các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Tại sao phải phóng sinh?
Nói một cách đơn giản, phóng sinh tức là cứu chuộc mạng sống. Chúng ta đã tạo
sát nghiệp nặng nề từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng:
“Nếu ác nghiệp này có hình tướng thì cho đến cùng tận hư không cũng không dung
chứa hết.” Chúng ta ngay trong kiếp này tạo nghiệp giết hại chúng sinh quả thật
đã không thể tính đếm được, huống chi là đã tạo trong nhiều đời nhiều kiếp!
Nên biết
chân lý: “Có nợ phải trả, có tội phải báo.” Xét lại tự thân mình đã tạo biết
bao nghiệp giết hại, chẳng tránh khỏi phải khủng hoảng, xấu hổ, thật không đất
dung chứa! Sao có thể không tự mình kịp thời sám hối, cố gắng phóng sinh, hầu
mong đền trả nợ nần trong muôn một! Việc phóng sinh có thể trưởng dưỡng tấm
lòng từ bi của mình. Nên khởi lòng bi mẫn phóng sinh, xem sinh mạng của loài vật
như sinh mạng của chính mình. Được vậy thì sẽ chẳng cuồng vọng, điên đảo nữa; sẽ
chẳng tạo nghiệp giết hại nữa; sẽ chẳng thiếu món nợ sát sinh nữa; nên chẳng phải
luân hồi thọ báo nữa.
Kinh Dược Sư
Lưu Ly bổn nguyện công đức dạy rằng: “Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh
tật, thoát khỏi các tai nạn.” Người phóng sinh tu phước, cứu giúp muôn loài
thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn.
Phóng sinh
có những công đức gì?
Công đức
phóng sinh rộng lớn vô biên, không thể tính đếm. Nay xin nói đại lược như sau:
1. Không có
nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát.
2. Sống lâu,
mạnh khỏe, ít bệnh tật.
3. Tránh được
thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn.
4. Con cháu
đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi không ngừng.
5. Chỗ mong
cầu được toại nguyện.
6. Công việc
làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi.
7. Hợp lòng
trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ.
8. Giải trừ
oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo buồn, sầu não.
9. Vui hưởng
an lành, quanh năm đều được an ổn.
10. Tái sinh
về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về thế
giới Tây phương Cực Lạc.
Trong kinh
Hoa nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện dạy rằng: “Chúng sinh thương yêu nhất là
sinh mạng, chư Phật thương yêu nhất là chúng sinh. Cứu được thân mạng chúng
sinh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật.”
Sau khi
phóng sinh, tự mình có những thay đổi gì?
Phóng sinh
có thể nuôi dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Trong khi thực hiện việc phóng sinh,
chúng ta nhân đó có thể thấu hiểu được chân lý vạn vật đều bình đẳng, đều có cảm
giác, đều có tánh Phật, đều có thể thành Phật. Nhờ đó, chúng ta có thể khởi tâm
từ bi với hết thảy chúng sinh, lại còn tôn trọng trân quí. Tiến thêm một bước nữa,
trong cuộc sống hằng ngày có thể thực hiện việc giới sát, ăn chay, cứu giúp
sinh mạng muôn loài; các điều ác không làm, các điều thiện cố gắng làm; khởi
tâm từ bi đối với tất cả muôn loài trên thế gian.
Nên biết rằng,
tâm Phật là từ bi. Khi chúng ta nuôi dưỡng lòng từ bi thì tâm ta với tâm Phật hợp
nhau, chư Phật hoan hỷ thì tự nhiên dễ có sự cảm ứng đạo giao, việc học Phật tự
nhiên dễ dàng thành tựu.
Trong kinh
Phạm võng, Bồ Tát Giới sám văn có dạy: “Phật tử không được tự mình giết hại, dạy
người giết hại, dùng phương tiện giết hại, tán thành việc giết hại, hoặc thấy
người khác giết hại mà vui mừng tán thành. Tất cả các loài có sự sống, có sinh
mạng, đều không được giết hại. Bồ Tát phải luôn phát khởi, gìn giữ tâm từ bi,
hiếu thuận, dùng phương tiện mà cứu mạng, bảo vệ cho tất cả chúng sinh. Người
thích sát sinh thì làm ngược với bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Như vậy là
phạm vào tội ba-la-di của hàng Bồ Tát.”
Tại sao hiện
nay có nhiều người phản đối và chỉ trích việc phóng sinh? Phóng sinh là phương
pháp dễ dàng nhất để tiêu trừ nghiệp chướng, lại đơn giản dễ làm. Chỉ cần phát
tâm tùy thời, tùy chỗ, một người hay nhiều người, nhiều tiền hay ít tiền đều có
thể phóng sinh. Chính vì phóng sinh thù thắng nhiệm mầu như vậy, mà nhiều đời
nhiều kiếp đến nay chúng ta có biết bao nhiêu oan gia trái chủ, tà ma ngoại đạo,
đều không muốn chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng, thành tựu đạo nghiệp một cách
đơn giản như vậy. Vì thế nên chúng dùng trăm phương nghìn kế để tăng trưởng vô
minh, làm lẫn lộn sự thấy nghe, mê hoặc nhân tâm, cản trở người ta phóng sinh.
Kinh Chánh
pháp niệm có dạy: “Tạo một ngôi chùa chẳng bằng cứu một sinh mạng.” Công đức
phóng sinh to lớn đến như thế!
Hỏi: Có thể
nào nói rõ một cách đơn giản đạo lý của việc phóng sinh?
Đáp: Có những
điểm rất dễ thấy, dễ biết như sau:
1. Nhân quả
báo ứng như bóng theo hình, mảy may không sai chạy. Gieo nhân gì thì gặt quả ấy,
đó là chân lý ngàn đời không thay đổi. Phóng sinh tức là cứu sống sinh mạng. Đã
gieo nhân lành ắt phải được quả lành. Cản trở và phê phán việc phóng sinh tức
là làm phương hại việc cứu sống sinh mạng. Đã gieo nhân ác ắt phải gặt quả ác.
2. Muôn loài
chúng sinh đều có sự sống, đều biết tránh nơi hung dữ, tìm chỗ an lành; đều biết
tham sống sợ chết, đều có vui, buồn, yêu, ghét... Người thực hiện việc phóng
sinh thì loài vật đều âm thầm cảm ơn và luôn mong có dịp báo đáp.
3. Muôn loài
chúng sinh đều có đủ tánh Phật như chúng ta, nếu so sánh với nhau đều không
hơn, không khác. Chỉ vì ác nghiệp trước đây sâu nặng, nên chúng phải sinh làm
các loài súc sinh. Ngày nào nghiệp chướng tiêu trừ, phát tâm tu tập thì cũng đều
có thể chứng thành quả Phật. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh, cứu được
một mạng sống, cũng giống như cứu được một vị Phật trong tương lai.
4. Muôn loài
chúng sinh cùng với ta trong luân hồi từ vô thủy đến nay đều đã từng là anh em,
thân quyến. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh cũng giống như cứu vớt
người thân của mình.
5. Muôn loài
chúng sinh cùng với ta trong luân hồi quá khứ đều đã từng là oan gia cừu địch.
Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh là cơ hội có thể hóa giải oán thù,
chấm dứt sự oan oan tương báo.
Hỏi: Nay dù
chúng ta cố sức làm việc phóng sinh, nhưng còn biết bao người khác vẫn khăng
khăng tìm cách bắt giết, như vậy thì có ý nghĩa gì?
Đáp: Người
phóng sinh có công đức của việc phóng sinh. Kẻ bắt giết có tội lỗi của việc bắt
giết. Chúng ta là người tạo công đức của chính mình, người khác bắt giết gây ra
tội lỗi của chính họ. Mọi việc trong thế gian đều tương đối tồn tại: Có thiện tất
có ác, có ngay thẳng tất có gian tà. Lẽ nào vì hành động tội lỗi của kẻ khác bắt
giết mà chúng ta lại không làm thiện hạnh phóng sinh hay sao? Như bác sĩ chữa
trị cho bệnh nhân, cũng không thể bảo đảm bệnh nhân sẽ mãi mãi mạnh khỏe. Gặp
khi mất mùa phát tâm cứu tế, cũng không thể bảo đảm dân nghèo về sau mãi mãi chẳng
đói thiếu. Mọi việc trong thế gian đều là như vậy. Tại sao chỉ có một việc
phóng sinh lại đặc biệt nghi ngờ? Con người hiện nay đối với việc danh lợi cá
nhân trước mắt thì lỗ mãng, nóng nảy, không chút dè dặt. Nhưng đối với việc làm
thiện phóng sinh thì lại vô cùng do dự, cố sức vạch lá tìm sâu để chỉ ra những
chỗ không nên của việc phóng sinh, quả thật là điên đảo!
Trong kinh
Phật diệt độ hậu quan liệm táng tống có dạy rằng: “Nên giữ theo tâm từ, ban trải
ân huệ đến muôn loài, xem thân mạng muôn loài chúng sinh như thân mạng của
chính mình. Mở rộng lòng từ bi, dùng thân mình mà giúp an ổn cho muôn loài, tức
là mở con đường hạnh phúc cho chúng sinh. Bảo hộ thân mạng muôn loài, thấm nhuần
đến cả cỏ cây, khiến cho muôn loài đều không phải dứt tuyệt.”[3]
Hỏi: Rất nhiều
người phê phán rằng: Bỏ tiền mua những con vật để thả ra nhưng cũng không cứu sống
được chúng. Như vậy thì phóng sinh nào có ý nghĩa gì?
Đáp: Cần nêu
rõ mấy ý như sau. Thứ nhất, những con vật thả ra mà không sống được chỉ là một
số ít. Tuyệt đại đa số những con vật phóng sinh đều được sống còn. Nếu ta không
làm việc phóng sinh thì tất cả những con vật ấy đều bị giết hại. Vậy không thể
vì một số ít con vật bị chết mà hoàn toàn phủ nhận nghĩa cử cao đẹp của việc
phóng sinh. Như vậy há chẳng phải vì mắc nghẹn mà bỏ ăn sao? Như vậy thật vô
lý.
Thứ hai,
trong những con vật thả ra, dù có bị chết thì ít nhất cũng được chết trong tự
do, chết trong môi trường thiên nhiên quen thuộc, cũng còn tốt hơn là bị cắt xẻo,
bị chiên dầu, trải qua cực hình nước sôi, lửa đốt mà chết, đau khổ gấp trăm
ngàn lần!
Thứ ba, đối
với những con vật khi phóng sinh thả ra được sống thì chúng ta vui mừng vì đã tạo
cho chúng cơ hội sống còn; đối với những con vật không may chết đi thì chúng ta
nên thành tâm cầu nguyện sự tốt lành cho chúng. Bởi vì hôm nay, trong nhân
duyên phóng sinh ngàn năm khó gặp này, ta đã vì những con vật ấy mà phát nguyện
quy y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, nên khi nghiệp ác trong kiếp này vừa dứt thì
chúng vĩnh viễn chẳng còn rơi vào trong ba đường ác[4] nữa. Hơn nữa, đã được
nghe ta niệm sáu chữ hồng danh “Nam-mô A-di-đà Phật” tức là đã được gieo hạt giống
đạo pháp trong tâm, vĩnh viễn không bao giờ hư mất, chỉ chờ khi hội đủ duyên
lành sẽ phát khởi đại diệu dụng. Kiếp sau nghiệp báo đã hết, được sớm chuyển thế
làm người, được niệm Phật tu hành, chứng thành Phật quả, còn có thể trở lại
Ta-bà cứu độ vô số chúng sinh khổ nạn.
Trong kinh
Phật có dạy rằng, nếu không giết hại, làm việc phóng sinh thì được quả báo tuổi
thọ dài lâu; giữ giới không giết hại thì giải trừ được mọi oán thù, nuôi dưỡng
được tâm từ bi, làm nảy nở hạt giống Bồ-đề.
CHUƠNG II:
CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
Hỏi: Có thể
nào giảng giải thêm về ý nghĩa sâu xa hơn nữa của việc phóng sinh trong trường
hợp những con vật thả ra bị chết?
Đáp: Chúng
ta có thể xem trong phẩm Lưu thủy trưởng giả tử thứ 16 trong kinh Kim Quang
Minh. Tiền thân của Đức Phật có lần là con nhà trưởng giả, vì không nỡ nhẫn tâm
thấy hàng vạn con cá đang dần dần bị chết khô trong vũng cạn, nên gấp rút dùng
hai mươi con voi lớn chở nước đến đổ vào để cứu sống sinh mạng đàn cá, lại vì một
vạn con cá ấy mà thuyết pháp, niệm Phật. Trong ngày mạng chung, số thi thể cá
này tích tụ trên bờ ao, thần thức của chúng được vãng sinh lên cõi trời Đao-lợi,
hưởng phước không cùng. Nay xin trích dẫn nguyên văn trong kinh làm chứng: “Bấy
giờ, cõi đất nơi ấy chấn động dữ dội, mười ngàn con cá cùng chết đi trong một
ngày. Vừa chết rồi liền được sinh về cõi trời Đao-lợi.”[5]
Sự thật, phước
báu lớn lao của việc phóng sinh còn là ở chỗ thực hiện nghi thức phóng sinh,
bao gồm việc quy y, niệm Phật. Loài súc sinh trong lúc sắp chết, thử hỏi có mấy
con may mắn được quy y Phật, Pháp, Tăng? Lại còn được các vị pháp sư và cư sĩ đều
vì chúng mà niệm Phật cầu nguyện cho được siêu độ. Nhờ đó mà nghiệp báo mau dứt,
sớm được ra khỏi ba đường ác, há chẳng phải phước duyên sâu dày lắm sao? Nhờ đó
mà nghiệp báo súc sinh sớm dứt, được chuyển sinh kiếp người, biết niệm Phật tu
hành, nhanh chóng được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, há chẳng phải
là nhân duyên thù thắng hay sao? Cho nên khi cư sĩ khi phóng sinh phải luôn
phát tâm từ bi mà cứu chuộc sinh mạng. Thử đặt mình vào vị trí nguy kịch ấy, vì
cứu lấy mạng sống đang nguy ngập mà làm việc phóng sinh. Nếu vạn nhất con vật ấy
có chết đi thì chúng ta cũng không có gì phải hổ thẹn với lương tâm, đồng thời
cũng đã dành cho chúng sự cầu nguyện chân thành vô hạn. Trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật dạy rằng: “Tâm Phật chính là tâm đại từ bi, dùng tâm từ không vướng mắc
mà hóa độ khắp cả chúng sinh.”[6]
Hỏi: Muôn
loài cầm thú có đến hàng ngàn, hàng vạn, chúng ta phóng sinh làm sao thả cho hết
được?
Đáp: Đức lớn
của trời đất là sự sống, đạo lớn của Như Lai là từ bi. Thuận theo đạo trời thì
yêu thích sự sống mà chán ghét sự giết hại. Nay ta cố gắng thực hiện việc phóng
sinh, nuôi dưỡng tâm từ bi là hợp với lòng trời mà chư Phật lại hoan hỷ. Nếu
như cứu được một mạng sống, công đức đã là vô lượng vô biên, huống chi là cứu
được nhiều mạng sống? Đến như muôn vạn loài súc sinh, dù hết lòng cứu vớt cũng
không hết, đó là do từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay cộng nghiệp tạo thành, chẳng
phải trong một lúc có thể dứt hết. Chúng ta chỉ cần đem hết khả năng mình, tùy
duyên mà thực hiện việc phóng sinh. Không thể vì muôn loài súc sinh quá nhiều
không giải cứu hết mà lại không ra tay cứu lấy những sinh mạng trong muôn một.
Kinh Đại Bát
Niết-bàn dạy rằng: “Lòng đại từ đại bi gọi là tánh Phật.”[7] Lại cũng dạy rằng:
“Lòng từ bi chính là Như Lai, Như Lai chính là lòng từ bi.”[8]
Hỏi: Tôi
nghĩ, thà đem số tiền làm việc phóng sinh để cứu tế cho những người nghèo khó
đói thiếu, xem ra có hiệu quả thực tế hơn.
Đáp: Già cả
cô độc, bần cùng khổ nạn, tuy thật đáng thương xót, nhưng mạng sống chưa đến nỗi
phải mất đi trong chốc lát. Còn loài vật đang nguy ngập kia, nếu chẳng kịp cứu
giúp phóng sinh thì tức khắc sẽ bị giết để nấu nướng, phải bỏ mạng trong miệng
con người. Một bên là cảnh ngộ đáng thương, nhưng vẫn còn giữ được tính mạng. Một
bên là chỉ mành treo chuông, mạng sống bị đe dọa. So ra bên nào gấp rút hơn đã
có thể thấy ngay.
Nên biết,
chúng sinh muôn loài so với chúng ta thì tánh Phật cũng đồng nhất, không sai
khác. Chỉ vì vô minh che lấp, nghiệp báo nặng nề mà phải trầm luân trong cảnh
giới súc sinh. Đối với tất cả chúng sinh, đức Phật đều thương yêu như đứa con
duy nhất. Cứu được một mạng sống tức là cứu được một người con Phật, nên chư Phật
đều hoan hỷ. Lại nữa, cứu một chúng sinh cũng như cứu được một vị Phật tương
lai, vì tất cả chúng sinh đều có tánh Phật, đều có khả năng thành Phật.
Luận Trí độ
dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội giết hại là nặng nhất. Trong tất cả các
công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.”[9] Trong kinh Phật cũng dạy rằng:
“Tâm từ chính là nhân duyên đem đến mọi sự an lạc.”
Hỏi: Nếu ai
ai cũng làm việc phóng sinh mà không giết hại, các loài súc sinh sẽ sinh sản
càng nhiều, tương lai thế giới này há chẳng phải sẽ trở thành thế giới cầm thú
hay sao?
Đáp: Như các
loài kiến, mối, côn trùng... loài người không ăn chúng nó, để mặc tình chúng tự
nhiên sinh sản, nhưng thế giới ngày nay có phải là thế giới của loài kiến
chăng? Hay là thế giới của loài mối, của côn trùng chăng? Thật ra, những loài vật
mà ta phóng sinh, khi được tự do sinh sản, được nuôi dưỡng trong thế giới tự
nhiên, thì tự chúng có sự điều tiết phù hợp trong sinh thái và sinh sản cân bằng.
Nghiệp ác của chúng ta hiện nay vẫn chưa được giải trừ, nếu lại cứ một mực lo lắng
rằng các loài súc sinh trên thế giới sẽ quá nhiều, như vậy có khác nào người
nông dân chưa xuống ruộng gieo giống mà lại cứ ngày ngày lo lắng mai sau lúa
thóc chín đầy cả ruộng đồng, không sử dụng hết. Lo lắng vô cớ như thế há chẳng
phải là buồn cười lắm sao?
Nên biết rằng,
nhân quả báo ứng như bóng theo hình, mảy may không sai chạy. Hiện nay, trên thế
giới sở dĩ cầm thú rất nhiều chính là vì trước kia những người giết cầm thú quá
nhiều, nay phải hóa sinh làm cầm thú. Như người ăn dê, dê chết rồi thành người,
người chết lại thành dê, sinh sinh tử tử trở thành báo oán lẫn nhau, đời đời
không dứt. Vì sự oan oan tương báo như thế, cùng làm súc sinh, cho nên có thế
giới cầm thú. Nếu như người người đều có thể bỏ việc giết hại, làm việc phóng
sinh, thì oan nghiệp hận thù giữa súc sinh và con người sẽ dần dần tiêu mất. Cầm
thú súc sinh do đó dần dần giảm thiểu, cõi người, cõi trời ngày càng thêm đông.
Như nước Sở chẳng ăn ếch mà ếch lại ít dần. Nước Thục chẳng ăn cua mà cua tự
nhiên ngày càng hiếm. Thời xưa đã có tấm gương sáng, chúng ta nên tự phản tỉnh,
xét soi. Kinh Đại Nhật có dạy rằng: “Phật pháp lấy tâm Bồ-đề làm chánh nhân, lấy
lòng đại bi làm căn bản.”
Hỏi: Khuyên
những người làm nghề sát sinh thay đổi nghề nghiệp, đó là làm hại sinh kế của
người ta. Như thế là thương loài súc sinh mà không thương người, có vẻ như
không được hợp tình hợp lý chăng?
Đáp: Xã hội
có đủ các giới sĩ, nông, công, thương, đủ các ngành nghề. Mỗi ngành nghề đều có
thể kiếm ra tiền, đều có thể nuôi sống gia đình, lẽ nào cứ phải lấy việc sát
sinh hại mạng để làm phương tiện mưu sinh cho mình hay sao? Nên biết rằng, nhân
quả báo ứng mảy may không sai lệch. Đã tạo nghiệp giết hại ắt phải gặp quả báo
bị giết hại. Ngày nay tuy có tạm thời được ăn sung mặc sướng, nhưng tương lai đến
lúc thọ nhận quả báo e rằng chẳng có lúc được ngừng nghỉ, vả lại còn để họa lây
đến con cháu đời sau. Quả là điều lợi chẳng bằng điều hại! Kinh Phạm Võng dạy rằng:
“Bồ Tát nên sinh khởi tánh Phật, hiếu thuận từ bi, thường giúp đỡ cho hết thảy
mọi người đều được an vui hạnh phúc.”[10]
Hỏi: Việc
phóng sinh có hạn chế đối tượng hay không?
Đáp: Không
có hạn chế! Phàm là các loài chim bay trên trời như bồ câu, se sẻ..., các loài
sống trong nước như tôm, cua, cá, ốc..., các loài sống trên mặt đất như hươu,
nai, dê, thỏ..., các loài chui sâu trong đất như giun, trùng, kiến, mối... Chỉ
cần có mạng sống thì đều có thể phóng sinh được. Luận Đại trí độ dạy: “Tâm đại
từ là ban vui cho tất cả chúng sinh, tâm đại bi là cứu vớt khổ nạn cho tất cả
chúng sinh.”[11]
Hỏi: Tại sao
khi thực hiện việc phóng sinh thường có nghi thức thọ Tam quy y và niệm Phật
cho loài súc sinh?
Đáp: Chánh
pháp ngàn năm khó gặp. Chúng ta cùng với loài súc sinh ấy có nhân duyên, nên
phát tâm cứu được mạng sống cho chúng, nhưng không thể cứu giúp chúng thoát khỏi
luân hồi nghiệp báo. Vì vậy rất nên phát tâm đại từ bi, vì chúng mà truyền thọ
Tam quy y, để giúp chúng kết duyên lành với Phật pháp. Chúng sinh nào có duyên
lành được quy y Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) thì không còn phải đọa vào ba đường
ác, nên có thể giúp cho những súc sinh ấy khi nghiệp báo dứt hết sẽ vĩnh viễn
không rơi vào các đường ác nữa. Ngoài ra, khi thực hành nghi thức như vậy, vị
pháp sư cùng tất cả cư sĩ tham gia đều vì chúng mà trì niệm danh hiệu Phật:
“Nam-mô A-di-đà Phật”. Được nghe sáu chữ hồng danh ấy tức là đã gieo nhân lành
vào tạng thức, nhờ đó mà kiếp sau chuyển thế làm người ắt sẽ gặp được Phật
pháp, biết niệm Phật tu hành, được vãng sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc,
vĩnh viễn thoát ly cái khổ của sáu đường luân hồi. Đây mới chính là ý nghĩa sâu
xa mầu nhiệm nhất của việc phóng sinh.
CHUƠNG III:
NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA LỊCH ĐẠI TỔ SƯ
Đại sư Trí
Giả
Đại sư Trí
Giả[12] được tôn xưng là Phật Thích-ca tái thế. Ngài sống vào giai đoạn các đời
Trần, Tùy ở Trung Hoa.
Đại sư nhìn
thấy ngư dân ven biển ngày ngày bắt cá sát sinh. Ngài khởi lòng từ bi, liền
dùng tiền cúng dường mua được một nơi ven biển Thượng Hải làm ao phóng sinh. Lại
vì ngư dân giảng kinh nói pháp. Nhóm ngư dân sau khi nghe pháp đều đổi ngành
chuyển nghiệp, tôn trọng mạng sống, ham làm điều thiện, còn đem hộ lương 63 sở ở
ven biển có từ 300 - 400 dặm làm ao phóng sinh. Đây là nơi phóng sinh đại quy
mô sớm nhất từ trước đến nay trong lịch sử Trung Hoa. Vật mạng được cứu sống có
đến hàng vạn ức. Tây Hồ hiện nay tức là ao phóng sinh mà năm xưa Đại sư sáng lập.[13]
Đại sư Vĩnh
Minh
Đại sư Vĩnh
Minh tương truyền là Phật A-di-đà từ bi thị hiện vào thời Ngũ đại ở Trung Hoa.
Đại sư trước làm quan coi kho ở huyện Dư Hàn. Thường muốn làm việc phóng sinh
nên lấy tiền trong quốc khố để mua tôm, cá, chim... mà phóng sinh. Đến khi truy
cứu bị khép tội lấy trộm quốc khố, phải xử tử hình, nhưng ngài trước sau mặt
không đổi sắc. Quốc vương lấy làm lạ, gạn hỏi nguyên do. Đại sư đáp rằng: “Tôi
vì phóng sinh nên mới làm việc này. Nay đã cứu được hàng ngàn, hàng vạn sinh mạng.
Nhờ công đức này để vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, vì thế nên vui mừng
chứ không hề lo sợ.” Vua hiểu chuyện, tôn trọng đức hạnh của ngài bèn ra lệnh
xá tội. Từ đó ngài xuất gia làm tăng sĩ, trọn đời niệm Phật tu hành, đắc đạo chứng
quả. Đời sau tôn xưng ngài là Tổ thứ sáu của Liên tông (tức Tịnh độ tông).
Đại sư Huệ
Năng
Đại sư Huệ
Năng là Tổ thứ sáu của Thiền tông. Từ sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng
Mai truyền tâm ấn, vì tránh sự bức hại của kẻ xấu nên đi về Thiều châu ở phương
nam mà ẩn mình, giấu kín thân phận, cùng sống chung trong một đoàn thợ săn.
Đoàn thợ săn
giao cho ngài giữ lưới. Ngài lấy tâm từ bi làm hoài bão, gặp những con vật như
sói, cọp, nai, thỏ... bị sa lưới đều tìm cách để phóng sinh. Phóng sinh như vậy
được 16 năm, vật mạng được cứu sống không thể tính đếm hết, lại còn cảm hóa được
nhóm thợ săn đổi nghề hướng thiện. Sau này, Đại sư ở tại đạo tràng Tào Khê làm
hưng thạnh Thiền tông, truyền khắp mọi nơi.
Đại sư Hàn
Sơn và Đại sư Thập Đắc
Đại sư Hàn
Sơn tương truyền là Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi thị hiện, còn đại sư Thập Đắc tương
truyền là Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện.
Đại sư Hàn
Sơn hỏi ngài Thập Đắc: “Phóng sinh có thể thành Phật được chăng?” Đáp rằng:
“Chư phật vô tâm, duy chỉ lấy từ bi làm tâm. Người có thể cứu cái khổ của sinh
mạng tức là thành tựu tâm nguyện của chư Phật. Cho nên, sinh một niệm từ bi, cứu
sống một sinh mạng tức là tâm nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm vậy. Ngày ngày làm
việc phóng sinh thì tâm từ bi cũng ngày ngày tăng trưởng, mãi mãi không ngừng,
niệm niệm đều chảy vào biển lớn đại từ bi của đức Quán Thế Âm. Khi ấy, tâm ta tức
là tâm Phật, sao lại chẳng thành Phật?”
Cho nên biết
rằng nhân duyên phóng sinh chẳng phải những điều lành nhỏ nhặt có thể so sánh
được. Phàm là người đồng nguyện như ta nên rộng hành khuyến khích, khéo léo khiến
cho mọi người đều biết trở về với tâm từ bi của chính mình mà hóa độ chúng
sinh.
Thiền sư Chí
Công
Vua Lương Võ
Đế hỏi thiền sư Chí Công rằng: “Công đức phóng sinh như thế nào?” Thiền sư đáp
rằng: “Công đức phóng sinh không thể hạn lượng. Trong kinh dạy rằng: Muôn loài
chúng sinh đều có tánh Phật, chỉ vì mê vọng nhân duyên nên khiến cho thăng trầm
khác biệt. Cho đến sinh tử luân hồi trở thành quyến thuộc với nhau, thay đầu đổi
mặt chẳng nhìn ra nhau được nữa. Nếu phát được tâm hỷ xả, khởi niệm từ bi, người
chuộc mạng phóng sinh thì đời này ít bệnh sống lâu, tương lai chứng được quả Bồ-đề.”
Thiền Sư Phật
Ấn
Thiền sư Phật
Ấn có kệ rằng:
“Tham tha nhất luyến, luyến hoàn tha,
Cổ thánh lưu
ngôn chung bất ngụy.
Giới sát niệm
Phật kiêm phóng sinh,
Quyết đáo
Tây phương thượng phẩm hội.”
Tạm dịch:
Miếng ăn, miếng
trả ắt chẳng sai,
Lời chư
thánh xưa nào hư dối?
Giới sát, niệm
Phật, thường phóng sinh,
Quyết về Tây
phương, bậc Thượng phẩm.[14]
Đại Sư Liên
Trì
Đại Sư Liên
Trì sống vào triều đại nhà Minh, từ nhỏ ưa thích làm việc phóng sinh. Sau khi
xuất gia, ngài xây dựng ao phóng sinh ở hai nơi là Trường Thọ và Thượng Phương.
Ngài có trước tác một bài Giới sát phóng sinh, khuyên dạy hết thảy người đời
nên giới sát phóng sinh. Ngài cũng để lại cho hậu thế bức vẽ Liên Trì Đại Sư đồ
giải. Tranh vẽ, văn chương của ngài đều đẹp đẽ phong phú, đều ân cần khẩn thiết
khuyên răn người đời chân lý nhân quả báo ứng, cùng với nhiều sự thực chứng, cảm
ứng rõ ràng nghiệp ác của việc sát sinh và nghiệp lành của việc phóng sinh. Đời
sau tôn ngài làm Tổ thứ tám của Liên tông (tức Tịnh độ tông). Sau đây là những
lời khuyên của ngài về việc giới sát phóng sinh:
1. Ngày sinh
không đuợc sát sinh
Cha mẹ đau đớn,
sinh ra ta vất vả. Ngày sinh ra ta chính là ngày mẹ ta chết dần đi. Vì vậy nên
phải cấm tuyệt việc sát sinh, nên ăn chay, làm nhiều điều thiện, cầu cho cha mẹ
tăng thêm phúc thọ. Cớ sao lại quên nỗi vất vả của cha mẹ mà nỡ lòng sát hại
sinh linh?
2. Sinh con
không được sát sinh
Không có con
ắt phải buồn lo, sinh được con thì rất vui. Sao không nghĩ xem, loài cầm thú
cũng biết yêu thương con, cớ sao mình sinh con ra lại khiến cho con của loài
khác phải chết? Như vậy có thể yên tâm được sao? Than ôi đứa trẻ vừa mới sinh
ra, đã không vì nó tích đức mà lại sát sinh, thế chẳng là mê muội lắm sao?
3. Cúng giỗ
không được sát sinh
Khi cúng giỗ
người đã khuất hoặc tảo mộ vào tiết xuân thu đều nên cấm việc sát sinh để tạo
phước đức. Trong tự nhiên sẵn có tám loại thực phẩm quý để dâng cúng,[15] đâu
thể bới xương cốt dưới cửu tuyền lên mà ăn sao? Sát sinh để dâng cúng chính là
đại bất hiếu!
4. Hôn lễ
không được sát sinh
Việc cưới hỏi
ở thế gian, có đủ nghi lễ thì thành chồng vợ, nào có phụ thuộc vào việc sát
sinh? Khi lập gia đình là đã bắt đầu nghĩ đến việc sinh con. Trước lúc sinh con
mà làm việc giết hại, quả là nghịch lý. Như vậy là ngày lễ tốt lành mà lại làm
việc hung dữ, giết hại, chẳng phải là mê muội lắm sao?
5. Đãi khách
không được sát sinh
Ngày lành cảnh
đẹp, chủ hiền đãi bạn rau, gạo, quả, trà không trở ngại chi đến cảnh trí nhà Phật.
Cớ sao lại giết hại mạng sống? Cùng cực béo ngọt, vui ca say sưa với cốc chén,
giết hại oan uổng bao mạng sống trên mâm ăn! Than ôi! Người có tấm lòng, nhìn
thấy như vậy chẳng buồn lắm sao?
6. Cầu an
không được sát sinh
Người đời có
thói quen sát sinh để tế thần, mong thần phù hộ. Không nghĩ rằng mình tế thần
là muốn tránh cái chết, cầu sự sống, nhưng giết hại mạng sống loài khác để mong
cho mạng mình sống lâu quả thật là nghịch lý, tàn độc hung ác.
7. Buôn bán
sinh sống không đưọc sát sinh
Phàm là con
người ai cũng phải vì cơm ăn áo mặc. Hoặc phải đi săn bắt, hoặc phải xuống nước
bắt cá, mò tôm, hoặc phải giết trâu, bò, lợn, chó... cũng chỉ vì kế sinh nhai.
Nhưng xét lại, những người không làm các nghề này cũng vẫn có cơm ăn áo mặc,
đâu vì thế mà phải chết đói chết rét? Làm nghề sát sinh ắt sẽ chịu quả báo bị
giết hại. Lấy việc giết hại mà được giàu có thì trăm người chẳng có lấy một!
Ngược lại còn phải chịu ác báo trong nay mai, không có gì nguy hại hơn thế. Sao
không cố gắng thay đổi nghề nghiệp, chọn những cách sinh nhai hiền lành chẳng
phải tốt hơn sao?
Người Phật tử
phải luôn tâm niệm bảy điều này để làm kim chỉ nam trong đời sống hằng ngày.
Người giữ giới
không sát sinh được thiện thần bảo hộ, tai ách tiêu trừ, tuổi thọ dài lâu, con
cháu hiếu thảo hiền lương, mọi chuyện đều may mắn tốt đẹp. Nếu dốc hết sức làm
việc phóng sinh, lại thêm chuyên tâm niệm Phật, không những tăng trưởng phước đức
mà còn nhất định sẽ được tùy nguyện vãng sinh, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi,
tiến lên địa vị không thối chuyển.
Đại Sư Ngẫu
Ích
Đại Sư Ngẫu
Ích dạy rằng: “Giết hại sinh mạng tức là giết mất các đức Phật tương lai trong
tự tâm mình. Phóng sinh tức là cứu sống các đức Phật tương lai trong tự tâm
mình. Nếu cứu sống các đức Phật tương lai trong tự tâm tức là phép tam-muội niệm
Phật chân thật. Tu tập phép tam-muội niệm Phật này tức là thường xuyên chuyển
kinh Pháp Hoa đến trăm ngàn vạn ức bộ vậy.”
Đại sư Ấn
Quang
Đại sư Ấn
Quang được xem vị đại sư đệ nhất của Tịnh độ tông kể từ năm Dân quốc (1912) tới
nay. Đời sau tôn xưng ngài là Tổ đời thứ 13 của Liên tông (tức Tịnh độ tông). Đại
sư hết lòng đề xướng việc giới sát phóng sinh, không tiếc sức lực. Trong nhiều
bài thuyết pháp, Đại sư đều giảng rõ về sự lý của việc giới sát phóng sinh,
khuyến khích đệ tử cố gắng giới sát phóng sinh. Nay xin ghi lại vài câu pháp ngữ
của Đại sư về việc giới sát phóng sinh như sau:
“Người giới
sát phóng sinh, đời sau được sinh lên cõi trời Tứ thiên vương, hưởng phước vô
cùng. Nếu lại có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc, công đức ấy
thật vô bờ bến. Phàm những ai muốn cho việc nhà được bình an, thân tâm an ổn,
tráng kiện, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, chỉ cần khởi sự từ việc giới
sát phóng sinh, ăn chay niệm Phật mà cầu thì đều được cả. Phật giáo truyền sang
phương Đông, chỉ rõ lẽ nhân quả báo ứng, khuyên người giới sát phóng sinh, bỏ
việc ăn thịt súc vật mà theo cách ăn chay.”
Đại sư Hoằng
Nhất
Đại sư Hoằng
Nhất là vị đại đức của Luật tông trong thời cận đại, cũng đề xướng việc phóng
sinh. Ngài dạy: “Xin hỏi quý vị, có muốn trường thọ chăng? Muốn lành bệnh
chăng? Muốn khỏi tai nạn chăng? Muốn được con cái chăng? Nếu ai muốn thì nay đã
có một phương pháp đơn giản, dễ thực hành, tức là phóng sinh vậy.”
Lão Hòa Thượng
Hư Vân
Lão Hòa Thượng
Hư Vân là bậc Thiền tông đại đức, cũng dạy chúng ta giới sát, phóng sinh, đoạn
ác tu thiện. Ngài dạy: “Đây là cơ hội muôn kiếp khó gặp, chúng ta phải dũng
mãnh tinh tấn, phải trong ngoài cùng tu. Tu tập bên trong tức là chỉ đơn độc
tham một câu thoại đầu: Niệm phật là ai? Hoặc niệm một câu A-di-đà Phật, không
khởi tham, sân, si, các tạp niệm, khiến cho chân như pháp tánh được hiển bày.
Tu tập bên ngoài tức là giữ giới sát sinh, đem Mười điều ác chuyển thành Mười
điều thiện. Chớ nên suốt ngày rượu thịt buông lung, tạo thành tội nghiệp vô
biên.”
Đại sư Diệu
Thiện
Đại sư Diệu
Thiện cũng được Phật tử tôn xưng là đức Phật sống Kim Sơn. Việc phóng sinh là một
trong các sinh hoạt thường ngày của ngài. Ngài đối với các loài cầm thú như
chim, cá, rùa, ốc, cua... đều có lòng thương yêu, đối xử bình đẳng. Bất cứ đi đến
đâu ngài cũng đều ưa thích làm việc phóng sinh.
Ngài từng
nói với những người đệ tử đang chịu khổ báo rằng: “Ta tuy có thể tạm thời làm
cho bệnh khổ của ông giảm thiểu, nhưng nghiệp giết hại từ nhiều kiếp trước của
ông vẫn chưa tiêu mất, e rằng sẽ có mối lo chết yểu. Có một phương pháp tiêu trừ
nghiệp chướng hay nhất là làm việc phóng sinh và giới sát. Cho nên, phóng sinh
là công đức lớn nhất. Ông nếu tin được lời tôi, hãy mau mau tùy sức mà mua lấy
vật mạng để phóng sinh thì có thể tăng phước, tăng thọ.”
Cư sĩ Lý Bỉnh
Nam
Lão cư sĩ Lý
Bỉnh Nam nói về việc giới sát phóng sinh như sau: “Chúng sinh từ xưa nay không
dứt nổi nghiệp giết hại, ai ai cũng phạm vào việc sát sinh. Sát sinh có thể
chia làm hai loại: Một là trực tiếp, hai là gián tiếp. Trực tiếp là tự mình giết
hại chúng sinh, cắt xẻo lấy da thịt mà làm thức ăn. Gián tiếp là vì mình ăn thịt
chúng sinh nên khiến cho người khác phải làm việc giết hại để phục vụ mình.
“Cái nhân tạo
ra của hai loại sát sinh này tích tụ lâu ngày, gặp duyên thì kết thành cái quả
của nạn đao binh, chiến tranh. Có người cho rằng, muốn cứu vãn nạn chiến tranh
thì phải làm nhiều việc thiện như sửa cầu, làm đường... Lời nói như vậy không
thể tin cậy được. Bởi vì nay phải chịu nạn đao binh chẳng phải do cái nhân quá
khứ phá hoại cầu cống, đường sá. Nay muốn lấy việc làm đường, sửa cầu cống mà
giải trừ, thì là hai việc hoàn toàn khác nhau.
“Tôi xin đem
phương pháp phóng sinh đơn giản nói với các vị: Trước tiên phải gia trì chú Đại
bi vào một ly nước sạch, rồi rưới lên mình chúng sinh được phóng sinh, miệng niệm
bài sám hối như sau:
Chúng con
xưa nay tạo ác nghiệp,
Đều do ba độc
tham, sân, si,
Từ thân, miệng,
ý mà sinh ra.
Nay đối trước
Phật cầu sám hối.
“Sau khi niệm
như vậy ba lần rồi, lại vì những súc sinh ấy mà niệm Tam quy y:
Quy y Phật,
Quy y Pháp,
Quy y Tăng.
Quy y Phật
không đọa địa ngục.
Quy y Pháp
không đọa ngạ quỷ.
Quy y Tăng
không đọa súc sinh.
“Tại sao đối
với chúng sinh phải nói Tam quy y? Bởi vì tất cả chúng sinh đều có hai cái mạng:
Một là thân mạng, hai là huệ mạng. Phóng sinh chẳng những cứu lấy thân mạng, mà
cũng nên cứu lấy cái huệ mạng của chúng. Nói Tam quy y cho chúng nghe là tạo
nhân lành cho chúng, nếu nghe mà nhận được thì đời sau sẽ không phải rơi vào địa
ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu được thân người thì có thể phát tâm Bồ-đề, tin sâu
Phật pháp, sẽ có khả năng thành Phật. Đây tức là cứu cái huệ mạng của chúng.”
Pháp sư Viên
Nhân
Pháp sư Viên
Nhân dạy rằng: “Tật bịnh, ung thư, tai nạn... sở dĩ có thể bất hạnh sinh ra là
duyên nơi nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà chiêu cảm lấy quả
báo này. Phương thức giải quyết chính là phóng sinh. Nhờ vào việc bỏ tiền, bỏ sức
để cứu mạng phóng sinh nên có thể đền trả vô số món nợ sát sinh trước kia mà
chúng ta đã thiếu.
“Điều quý
báu nhất của mỗi chúng sinh đều là mạng sống. Giết hại chúng thì chúng oán hận
nhất, oan cừu kết sâu nhất, cho nên nói nghiệp giết hại là nặng nhất. Ngược lại,
cứu sống được chúng thì chúng cảm kích nhất, tạo được nhiều phước thiện nhất,
cho nên nói công đức phóng sinh là đệ nhất.
“Những ai
phê phán, hủy báng việc phóng sinh, hoặc cản trở nghi ngờ việc phóng sinh cần
phải lưu ý. Vì cản trở người phóng sinh thì cũng giống như sát sinh, khiến cho
hàng ngàn hàng vạn sinh mạng không được giải cứu, phải hàm oan mà chết. Tội lỗi
đó thật là vô lượng vô biên. Nhất định phải gấp rút sám hối, sửa lỗi, nếu không
thì khổ hình nơi địa ngục nhất định không tránh khỏi.”
CHUƠNG IV:
GIẢI TRỪ NGHI VẤN
Ý nghĩa
phóng sinh, tích cực hay tiêu cực?
Hỏi: Mỗi lần
chúng tôi phóng sinh, thường phải đến tiệm bán chim để mua chim. Vì tiệm bán
chim chỉ có mấy tiệm cố định, nên mua lâu rồi thì chủ tiệm chim đều biết trước
là chúng tôi sẽ đến mua chim để phóng sinh. Vì thế, họ cố ý thu gom, tồn trữ,
chuẩn bị rất nhiều chim chờ chúng tôi đến mua. Phóng sinh như vậy thì sớm đã bị
người ta đoán biết, nên cũng như gián tiếp khuyến khích họ đi bắt chim về để
bán cho chúng tôi thả. Như vậy thì việc phóng sinh vô tình lại tạo điều kiện
giúp người khác tạo sát nghiệp. Vì thế, rất nhiều người phê phán chúng tôi, chê
cười chúng tôi là ngu si. Ngay cả trong lòng chúng tôi cũng có chỗ nghi hoặc,
nên thật chẳng dám đi mua chim để phóng sinh nữa. Có thể giải thích mối nghi
này như thế nào?
Đáp: Chúng
ta thả chim, đến tiệm bán chim không nỡ nhìn thấy chúng bị bắt, bị giam, sắp bị
giết, nên phát lòng từ bi cứu lấy chúng nó, đem chúng nó đi phóng sinh. Đó là một
công đức đơn thuần, chỉ trong một ngày thì có thể hoàn thành. Nhờ đó mà vô số
chim có được cơ hội sống còn trong tự nhiên, khác nào như được tái sinh lần nữa!
Chủ nhân tiệm
chim biết được chúng ta sẽ mua chim phóng sinh, vì thế mà trước đó đã thu gom,
tồn trữ, tìm khắp các nơi để mua sỉ, mua lẻ, mang về một chỗ chờ đợi chúng ta đến
mua. Như vậy thì lại càng phải cố gắng mua cho thật nhiều, điều này có gì mà phải
phân vân, do dự? Chỉ cần khả năng cho phép, họ thu gom được càng nhiều chim thì
ta càng nên mua chim để phóng sinh.
Ông hãy suy
nghĩ cho kỹ việc này. Vì biết chúng ta phóng sinh nên chủ nhân tiệm chim mới
tìm mọi cách, nghĩ ra mọi biện pháp để thu gom những con chim bị bắt được ở khắp
nơi, toàn bộ đều mang về một chỗ để chờ chúng ta giải cứu phóng sinh. Tất cả những
con chim khổ nạn kia được giải cứu ắt phải mừng đến rơi lệ; tất cả thiên long hộ
pháp phải hết lòng tán thán việc lành này; chư Phật, Bồ Tát đều hết lòng hoan hỷ
khen ngợi; tất cả oán thân trái chủ của chúng ta phải cúi đầu thất vọng; Ma
vương, tà chúng phải tức giận đến dựng mày trợn mắt!
Chúng ta hãy
thử đặt câu hỏi: Nếu như ngày nay chúng ta không phóng sinh nữa, không thả chim
nữa, thì những thợ săn bắt chim kia sẽ thôi không bắt chim nữa chăng? Các tiệm
bán chim kia sẽ đóng cửa không buôn bán được nữa chăng? Câu trả lời chắc chắn
là không. Chim vẫn bị người ta tung lưới ra bắt. Tiệm bán chim vẫn mở cửa buôn
bán như trước. Nhưng khi ấy, những con chim xinh đẹp, quý giá thì bị bán cho
người ta nhốt vào lồng để thưởng ngoạn, còn những con chim xấu xí, giá trị
không cao có thể bị bán cho người đem đi tiềm, nướng, làm thành từng xâu chim
nướng rao bán bên lề đường... Lại có những con quá xấu xí, gầy ốm, không thể
bán được nhưng rủi ro sa vào lưới, khi ấy thợ săn chỉ chọn một số chim có giá
trị đem bán, còn những con chim tội nghiệp ấy thì đưa tay bẻ cổ một cái rồi
quăng thây trong rừng núi hoang vắng.
Vì thế, nếu
như thật có tiệm bán chim chỉ chuyên bán chim để phóng sinh thì cũng chẳng sao
cả. Cứ mặc tình chúng ta đến mua, mặc tình mang đi thả. Phóng sinh là phóng
sinh. Phóng sinh tuyệt đối là một việc tốt đẹp. Tiệm bán chim để phóng sinh thì
cũng chẳng khác nào một trại tập trung tù giam để chờ đợi đại ân xá. Những con
chim kia, hoặc là mừng vui, mừng vui vì có cơ hội gặp người thiện tâm phóng
sinh cứu mạng; hoặc là lo sợ, lo sợ rằng chúng ta đánh mất tâm niệm phóng sinh.
Nếu chúng ta nhụt tâm thối chí, nghe theo những kẻ năm lần bảy lượt đẩy đưa cản
trở, thì chúng nó dù một mảy may cơ hội sống còn đều chẳng có!
Một cuộc đối
thoại: Phóng sinh hay phóng tử?
Một thanh
niên nhìn thấy bà cụ già đang thả cá phóng sinh. Chàng chú ý quan sát rồi đến gần
bà cụ thắc mắc thưa hỏi.
Chàng thanh
niên: Thưa cụ, cụ hãy xem kìa! Số cá vừa thả ra đã chết đi rất nhiều, thi thể nổi
lên mặt nước. Phóng sinh như vậy chắc hẳn phải gọi là phóng tử, như vậy thì có
ý nghĩa gì đâu?[16]
Bà cụ: Này cậu
thanh niên, cậu hãy nhìn lại cho thật kỹ, lẽ nào không thấy được sao? Vẫn còn một
số cá lớn sống trên mặt nước, vui mừng tung tăng bơi lội đó. Trong quá trình
phóng sinh giải cứu vật mạng, khó lòng tránh khỏi có một phần nhỏ cá bị chết.
Điều này không thể tránh được Cũng như trong chiến tranh, quân nhân giải cứu đồng
bào bị vây. Trong quá trình giải cứu cũng khó tránh khỏi có một vài người không
may tử vong. Tuy nhiên, cũng không phải vì thiểu số bị tử vong mà bỏ đi hành động
giải cứu. Lại cũng như trong khi cấp cứu, bác sĩ cứu chữa bệnh nhân đang lâm
nguy. Trong quá trình cấp cứu cũng khó tránh khỏi một số bịnh nhân không may tử
vong. Vẫn không thể vì thiểu số bệnh nhân tử vong mà bác sĩ bỏ đi hành động cứu
chữa.
Chàng thanh
niên: Thưa cụ, lời cụ thật có đạo lý. Nếu chúng ta không làm việc phóng sinh
thì tất cả những con cá kia chỉ duy nhất có một đường chết mà thôi. Toàn bộ đều
sẽ bị bán đi, bị giết chết, bị ăn thịt! Nhờ có chúng ta làm việc phóng sinh nên
ít nhất những con cá kia vẫn còn một tia hy vọng, một cơ hội sống sót, tối thiểu
cũng có một phần cá được lấy lại tự do, được cơ hội sống còn. Còn những con cá
không may chết đi thì ít nhất cũng tránh được cực hình cắt xẻo, lửa đốt, nước
sôi... Không có người phóng sinh thì những con vật bị bắt chỉ có duy nhất một
con đường chết, vả lại còn phải chết một cách vô cùng thê thảm. Nhờ có người
phóng sinh, ít nhất cũng có thể cho những con vật tội nghiệp kia một cơ hội sống
sót. Vạn nhất chẳng may chết đi thì cũng được chết trong lòng tự nhiên, chết được
toàn thây, giảm được sự đau khổ rất nhiều.
Bà cụ: Cậu
thanh niên này! Xem ra cậu rất có căn lành, vừa nói qua thì cậu đã hiểu được
ngay. Kỳ thật, còn có ý nghĩa sâu xa hơn nữa của việc phóng sinh là quy y Tam bảo
và niệm Phật. Chúng ta được biết, quy y Phật không đọa địa ngục, quy y Pháp
không đọa ngạ quỷ, quy y Tăng không đọa súc sinh. Trong pháp hội phóng sinh, dưới
sự chủ trì của pháp sư, những súc sinh trong nhân duyên ngàn năm khó gặp này sẽ
được quy y Tam bảo. Nhờ đó mà trải qua đời này, nghiệp báo súc sinh dứt hết thì
có thể nhờ công đức quy y Tam bảo mà thoát được ba đường ác. Lại có pháp sư và
nhiều cư sĩ thiện tâm cùng chí thành vì súc sinh tụng niệm Phật hiệu “Nam-mô
A-di-đà Phật”, nhờ đó mà gieo vào tạng thức của súc sinh một hạt giống lành
tròn đầy. Trong tương lai, hạt giống niệm Phật ấy sẽ đâm chồi thành thục, giúp
súc sinh được sinh làm người, biết niệm Phật tu hành, vãng sinh về thế giới Tây
Phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, chứng đắc quả Phật. Đây mới là ý
nghĩa tích cực nhất trong việc phóng sinh.
Chàng thanh
niên: Thưa cụ, vô cùng cảm ơn những lời giải thích của cụ. Con hôm nay cuối
cùng đã hiểu rõ được ý nghĩa chân chánh của việc phóng sinh. Kỳ thật, chết chỉ
là một hình thức. Những con cá bị chết quả nhiên đáng thương, nhưng ngày nay đã
được quy y Tam bảo, lại được nghe câu thánh hiệu bất khả tư nghị “Nam-mô
A-di-đà Phật” thì thọ mạng của súc sinh sớm được kết thúc, sớm được giải thoát,
sớm được siêu sinh, sau này sớm biết niệm Phật tu hành, vãng sinh về thế giới
Tây phương Cực Lạc. Xét như vậy thì những con cá bị chết kia cũng là có phước
báu. Con trước đây cứ mãi phê phán việc vật mạng phóng sinh bị chết, nay mới biết
được chính mình là ngu si biết chừng nào.
Bà cụ: Cậu
thanh niên này! Tất cả chúng sinh trong sáu đường luân hồi đều là khổ, gồm cả
chúng ta trong đó. Chúng ta phóng sinh đương nhiên phải hy vọng toàn bộ súc
sinh đều được sống. Hết lòng hết dạ làm cho chúng được sống còn. Nhưng nếu vẫn
không may có một số chết đi, chúng ta cũng thành tâm cầu nguyện cho chúng sớm
được giải thoát, được chuyển sinh, sớm biết niệm Phật, được vãng sinh về thế giới
Cực Lạc. Chúng ta tự mình cũng chán lìa cõi Ta-bà, cầu sinh Cực Lạc. Hy vọng
chính mình cũng sớm dứt nghiệp báo, được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.
Chàng thanh
niên: Thưa cụ, đúng vậy! Kỳ thật cái chết cũng chẳng phải thực sự bất hạnh. Có
cái chết nhẹ như lông hồng, có cái chết nặng như Thái sơn. Sau khi chết được
siêu sinh, được vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, đó mới là đại giải thoát
chân chánh, mới là nơi quy trú tốt nhất của tất cả chúng sinh trong sáu đường
luân hồi. Từ nay trở đi con nhất định cố gắng phóng sinh, lại còn rộng khuyên tất
cả mọi người phóng sinh. Càng phải nói với mọi người rằng ngày nay con được hiểu
rõ giá trị và ý nghĩa chân chánh của việc phóng sinh. Cảm ơn cụ, cảm ơn cụ!
Bà cụ: Cậu
thanh niên này, cậu nhất định phải ghi nhớ: Phóng sinh tức là cho súc sinh một
cơ hội sống, một sự tự do, lại có được một cơ hội quy y Tam bảo, một cơ hội được
nghe niệm Phật. Dù thế nào cũng đừng vì những sự hủy báng cản trở mà khiến cho
vô số súc sinh đang thọ khổ nạn kia phải mất đi cơ hội sinh tồn.
Chàng thanh
niên: Thưa cụ, đúng vậy! Phóng sinh cũng là dành cho chính chúng ta một cơ hội
cứu thân chuộc mạng, đền trả nợ giết hại, một cơ hội rộng chứa phước điền, tiêu
trừ nghiệp chướng. Nhất định không thể vì bất cứ sự cười chê nghị luận, phê
phán nào mà thối tâm nhụt chí, bỏ lỡ đi cơ hội quý báu nhất để tiêu trừ nghiệp
chướng của chính mình.
CHƯƠNG V: BỐN
PHÁP BẢO
1. SÁM HỐI
Khi chưa học
Phật thường cống cao ngã mạn, tự cho mình là đúng. Sống trong đời mỗi ngày đều
mưu tính làm cách nào để cho mình được hơn người một bậc; làm cách nào để có được
gia tài đồ sộ; làm cách nào để thân mình đeo đầy vàng bạc; làm cách nào để
thanh danh vang xa... Suốt một ngày có 24 giờ, mỗi khi thức dậy đều đuổi theo
tham, sân, si. Ngay cả trong giấc ngủ cũng bị ba món độc này trói buộc, nhưng tự
mình ngu si không giác ngộ, vẫn ở trong hầm phẩn mà chẳng tự biết, thật đáng xấu
hổ đến cùng cực. Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện dạy rằng: “Chúng sinh trong
cõi Nam Diêm-phù-đề, mỗi một cử động, mỗi một ý nghĩ đều phạm vào tội lỗi.”
Sau khi được
học pháp Phật mới bừng tỉnh ra, nhận thấy chính mình quả thật xấu xa độc ác.
Toàn thân đều là những nghiệp sát sinh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ... tội nghiệp
sâu nặng. Trong sinh hoạt hằng ngày, nhất cử nhất động, khởi tâm động niệm đều
là xấu ác. Ngày ngày đối diện với tham, sân, si của mình mà chiến đấu, vẫn cứ
thất bại, rồi lại chiến đấu... Từ đó mới thể hội được sâu sắc bốn chữ: cụ phược
phàm phu kẻ phàm phu đầy dẫy phiền não). Trong nhiều kiếp từ vô thủy đến nay đã
tích lũy biết bao tập khí nghiệp chướng; sớm đã đem sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý) buộc chặt vào đến nỗi không thoát ra được.
Muốn thoát
khỏi tập khí, tiêu trừ nghiệp chướng nào phải dễ dàng. Như hôm nay ta chỉ có một
con đường là sám hối. Kinh Kim Quang Minh, phẩm Sám hối (phẩm thứ 3) dạy rằng:
Sở vị Kim
Quang,
Diệt trừ chư
ác,
Thiên kiếp sở
tác,
Cực trọng ác
nghiệp,
Nhược năng
chí tâm,
Nhất sám hối
giả,
Như thị
chúng tội,
Tất giai diệt
tận.
Ngã kim dĩ
thuyết,
Sám hối chi
pháp,
Thị Kim
Quang Minh,
Thanh tịnh
vi diệu,
Tốc năng diệt
trừ,
Nhất thiết
nghiệp chướng.
Tạm dịch:
Chỗ gọi là
Kim Quang
Diệt trừ các
điều ác.
Cho dù trong
ngàn kiếp,
Tạo nghiệp
ác nặng nề.
Nếu có thể một
lần,
Chí tâm cầu
sám hối,
Thì những tội
lỗi ấy,
Hết thảy đều
tiêu trừ.
Ta nay đã
thuyết dạy,
Pháp sám hối
nhiệm mầu,
Gọi là Kim
Quang Minh.
Pháp thanh tịnh
vi diệu,
Có thể diệt
trừ nhanh,
Hết thảy mọi
nghiệp chướng.
Pháp sám hối
Kim Quang Minh này là pháp bảo vô giá. Chúng ta là phàm phu trong thời mạt pháp
của cõi thế giới có đủ năm sự xấu ác mà nghe được pháp môn này, chính là nhờ đã
từng đối trước trăm ngàn vạn ức đức Phật trồng các căn lành, nay mới có được
phước báu này.
Nguyện cho tất
cả mọi người đều có thể thành tâm sám hối, phát lộ tội lỗi, cầu mong chư Phật,
Bồ Tát gia hộ, sớm diệt trừ tội chướng sâu nặng, và nhờ vào công đức sám hối
này mà hồi hướng cho khắp các chúng sinh hữu tình rộng lớn, cầu cho khắp nơi thảy
đều thoát ly biển nghiệp, cùng sinh về cõi Tịnh độ Cực Lạc.
2. PHÓNG
SINH
Luận Đại Trí
độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội giết hại là nặng nhất. Trong tất cả
các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Vì đối với tất cả chúng
sinh, điều quý báu nhất chính là mạng sống. Bị giết hại thì sinh ra oán thù sâu
nặng nhất; được cứu sống thì cảm kích, mang ơn nhất.
Pháp đầu
tiên trong sáu pháp ba-la-mật là Bố thí. Bố thí gồm có: tài thí, pháp thí và vô
úy thí, mà chỗ đáng quý của việc phóng sinh là tự nó bao gồm đủ cả ba việc tài
thí, pháp thí và vô úy thí. Vì gồm đủ ba cách bố thí nên công đức của việc
phóng sinh là cao quý, lớn lao nhất.
Pháp sư Viên
Nhân đã chỉ dạy cho chúng ta pháp bảo vô thượng thù thắng là việc phóng sinh, mọi
người càng nên trân quý, nỗ lực thực hành, để chẳng phụ lòng pháp sư đã khổ tâm
lao nhọc dạy dỗ chúng ta.
3. ĂN CHAY
Kinh
Lăng-già dạy rằng: “Ăn thịt cùng với sát sinh đồng tội. Trong tất cả tội nghiệp,
nghiệp giết hại là nặng nhất.” Vì đã tạo nghiệp giết hại ắt phải nhận chịu quả
báo bị giết hại. Nhân quả báo ứng là thảm khốc nặng nề nhất.
Ngờ đâu, điều
bất hạnh nhất của chúng ta là suốt đời mải mê tạo nghiệp giết hại mà không tự
biết. Bởi vì ăn thịt đồng tội với sát sinh, nên ăn thịt tức là sát sinh. Chúng
ta ngày ngày ăn thịt, tức là ngày ngày tạo nghiệp giết hại. Ba bữa ăn thịt túc
là ba bữa vay nợ giết hại. Chúng ta vì ăn thịt chúng sinh mà kết thành mối oán
thù sâu như biển lớn, vô lượng vô biên không thể tính đếm, nên quả báo trong
tương lai thật khiến cho người ta không thể tưởng tượng nổi, không dám nghĩ đến.
Kinh Niết-bàn
dạy rằng: “Người ăn thịt là đoạn mất hạt giống đại từ.”[17] Tâm Phật tức là tâm
từ bi. Chúng ta tu hành học Phật, tức là học theo tâm đại từ bi của Phật. Học
được một phần tâm từ bi của Phật thì đạo nghiệp của chúng ta thành tựu một phần.
Học được mười phần từ bi của Phật thì đạo nghiệp của chúng ta thành tựu mười phần.
Những người ăn thịt, sớm đã đoạn mất hạt giống đại từ bi, thì còn biết làm sao
được? Tâm từ bi không được nuôi dưỡng, không nảy nở. Không có tâm từ bi thì sớm
đã lìa xa tâm Phật. Nên tất cả việc tu hành đều chỉ còn là sự thất vọng buồn
chán!
Kinh Lăng
nghiêm dạy rằng: “Người ăn thịt thì chỗ cầu công đức đều không thành tựu.”
Chúng ta muốn cầu cho thân thể khỏe mạnh, cuộc sống bình an, con cháu hiển đạt,
sự nghiệp thuận lợi; muốn cầu cho nghiệp chướng tiêu trừ, đạo nghiệp thành tựu,
liễu sinh thoát tử, vãng sinh Tây phương; nhưng nếu là người ăn thịt thì chỗ cầu
tất cả công đức đều không thể thành tựu. Đây là lời dạy bảo từ kim khẩu đức Phật.
Nếu chúng ta
không thể ăn chay, vẫn cứ ăn thịt, tạo sát nghiệp như cũ, thì tất cả tâm nguyện
của chúng ta xem như vô phương thực hiện! Chính vì việc ăn chay quan trọng như
vậy, nên Pháp sư Viên Nhân vẫn luôn giữ theo lời dạy của đức Phật, một lần rồi
hai lần, hai lần rồi ba lần, nỗ lực không ngừng khuyên dạy mọi người phải cố gắng
học Phật, nhất định phải mau mau ăn chay, mau mau dứt bỏ cái thói quen ăn thịt
từ lâu ngày.
Nếu có thể lập
tức sửa đổi thành người ăn chay hoàn toàn là hay nhất. Nếu không có cách chi lập
tức sửa đổi như vậy, thì vẫn phải luôn thôi thúc chính mình, đốc thúc chính
mình hướng hoàn toàn về mục tiêu bỏ thịt ăn chay mà thực hiện dần dần. Vì ăn một
lần thịt là tạo một lần sát nghiệp, kết một lần oán thù. Ăn mười lần thịt là tạo
mười lần sát nghiệp, kết mười lần oán thù. Mỗi một lần ăn thịt là tạo ra sát
nghiệp, là kết thành mối oán thù sâu đậm với chúng sinh. Tương lai nhân quả báo
ứng vẫn phải chính mình đền trả. Tạo được vô biên công đức thì chính mình được
hưởng, gây ra vô biên tội lỗi thì cũng chính mình nhận lãnh lấy. Mỗi một người
học Phật đều phải nghiêm chỉnh trong việc này. Dù thế nào cũng không thể xem
thường!
4. NIỆM PHẬT
Kinh Đại Tập
dạy rằng: “Thời mạt pháp, muôn ức người tu hành cũng ít có được một người đắc đạo.
Chỉ có y theo pháp môn niệm Phật mà được độ thoát sinh tử.”
Đại sư Thiện
Đạo dạy rằng: “Đức Như Lai sở dĩ xuất hiện trên thế gian này, mục đích duy nhất
là giảng thuyết về bổn nguyện to lớn của đức Phật A-di-đà.”
Chỉ một câu
A-di-đà Phật là tinh hoa cao trổi nhất của đức Phật thuyết pháp trong 49 năm;
là con đường tắt trong đường tắt; là diệu pháp trong diệu pháp. Nương nhờ đại từ
đại nguyện của đức A-di-đà Phật, nương nhờ sức Phật mà cắt ngang qua dòng trược
lưu sinh tử, siêu thoát luân hồi quả báo.
Thời mạt
pháp tu hành, nếu lìa khỏi pháp môn niệm Phật thì trong muôn ức người tìm không
ra một người thành tựu. Niệm Phật có đầy đủ công đức không thể nghĩ bàn. Chúng
ta nên chỉ theo một môn này mà thâm nhập. Đời này, kiếp này nên hết lòng niệm Phật,
không xen tạp, không lòng này ý khác. Vì niệm một câu Nam-mô A-di-đà Phật thì
tương đương như tụng hết 3 tạng, 12 phần giáo điển.
Một câu
A-di-đà Phật cũng tức là pháp thiền. Kinh Đại Tập dạy rằng: “Nếu ai nhất tâm niệm
được câu Nam-mô A-di-đà Phật thì gọi là pháp thiền vô thượng thâm diệu.”
Một câu
A-di-đà Phật cũng tức là pháp mật. Sáu chữ hồng danh toàn y theo Phạn văn, chưa
phiên dịch một chữ nào, là câu chú chân thật nhất, đơn giản nhất.
Thế nên, một
câu niệm Phật cũng vừa là pháp thiền, vừa là pháp mật, lại vừa có thể bao quát
cả 3 tạng 12 phần giáo điển.
Trong kinh dạy
rằng: “Hàng Bồ Tát Thập địa xưa nay vẫn chưa từng rời bỏ câu niệm Phật.” Khi
chúng ta niệm Phật, mười phương chư Phật đều đến hộ niệm. Trên từ các vị Bồ Tát
đẳng giác, dưới đến bao chúng sinh nhiều tội nghiệp, một niệm đó đều như nhau,
chính là một câu Nam-mô A-di-đà Phật.
Thử nghĩ
xem, chúng ta là phàm phu đầy dẫy phiền não, có phước đức năng lực gì mà được
phước báu cùng các vị Đại Bồ Tát cùng tu một pháp môn? Các vị Bồ Tát Văn Thù,
Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí đều dạy chúng ta niệm Phật. Pháp môn niệm Phật thù
thắng như vậy, khó gặp như vậy, đời này kiếp này chúng ta càng phải nắm vững. Nếu
không có thiện căn của nhiều đời nhiều kiếp thì chúng ta không thể được nghe,
càng không thể tin nổi câu Phật hiệu này.
Pháp sư Viên
nhân đem một câu Nam-mô A-di-đà Phật mà dung hội vào mọi việc ăn, mặc, ngủ nghỉ
trong sinh hoạt hằng ngày. Nhất cử nhất động đều không lìa khỏi việc niệm Phật.
Đối với ngài thì chim hót, ếch kêu, mỗi tiếng đều là tiếng niệm A-di-đà. Ngài lấy
thân giáo thị hiện mà chỉ dạy chúng ta một lòng niệm Phật.
Chúng ta may
mắn được gặp pháp sư Viên Nhân là bậc mẫu mực trong sự hành trì niệm Phật chân
chánh, lại còn được thân cận thỉnh ích. Đây là một phước báu hết sức to lớn.
Nguyện cho tất cả mọi người niệm Phật đều có thể một lòng một dạ niệm Phật cầu
vãng sinh, một đời thành tựu để chẳng cô phụ đại từ bi nguyện của đức Di-đà,
cũng chẳng quên ơn dạy dỗ với sự lao nhọc và ân cần chỉ dạy của pháp sư.
CHƯƠNG VI:
PHÓNG SINH LÀ NUÔI DƯỠNG LÒNG TỪ BI
Câu chuyện
sau đây được ghi theo lời kể của bác sĩ Quách Huệ Trân. Bản thân vị bác sĩ này
là một người tinh tấn tu tập, tín tâm sâu vững, về sau xuất gia trở thành Pháp
sư Đạo Chứng.
Tôi có một
người bạn đồng học hiện là giáo sư tại một trường đại học ở Hoa Kỳ, cũng là một
nhà khoa học về thực phẩm nổi tiếng trên thế giới. Khi anh còn đang học trung học,
bỗng nhiên mắc phải một cơn bệnh nặng. Cha mẹ đưa đi bác sĩ khắp nơi, làm rất
nhiều xét nghiệm cực khổ. Một hôm, tại Tổng y viện Vinh Dân, kết quả xét nghiệm
tìm thấy trong phim chụp X quang phần ngực của anh có một vết đen lạ. Nhưng lúc
đó bác sĩ cũng chưa có kết quả chẩn đoán chính xác.
Người bạn học
này của tôi vì chịu rất nhiều đau khổ nên khởi tâm từ bi, rất cảm thông với nỗi
đau khổ của người khác. Lúc học lên đến bậc đại học, anh bắt đầu học Phật pháp,
lại còn phát tâm thọ trì Năm giới. Sau khi thọ giới, anh càng chí thành, tinh tấn.
VÌ KIÊN TRÌ
GIỮ GIỚI MÀ TỪ BỎ HỌC VỊ THẠC SĨ
Sau đó, lúc
đang học chương trình cao học ở Hoa Kỳ, bài vở và việc thực nghiệm rất bận rộn.
Mỗi ngày anh phải thức đến 12 giờ đêm hay 1 giờ sáng. Lâu ngày, do học nhiều và
làm việc quá sức, lại thiếu ngủ nghỉ cũng như ăn uống thất thường, nên dần dần
anh thấy xuất hiện một số triệu chứng: môi trở nên trắng bệch.
Khi anh sắp
lấy được học vị thạc sĩ, lần cuối cùng phải làm một cuộc thí nghiệm, đòi hỏi phải
giết rất nhiều chuột trong khi thực hiện. Anh vốn đã có bản tính từ bi, lại
thêm tinh thần trì giới, nên kiên quyết không làm việc sát sinh, quyết định từ
bỏ học vị thạc sĩ sắp có được. Người nhà và bè bạn đều chê trách: “Tại sao đã
chịu cực khổ học hành ở Hoa Kỳ lâu như vậy mà cuối cùng lại bỏ đi? Biết bao người
mong muốn có được học vị này, nay anh sắp có được sao lại từ bỏ? Chẳng lẽ chỉ
vì không muốn giết chuột lại từ bỏ một công trình khó nhọc lâu ngày như vậy hay
sao?...”
LÒNG TỪ BI
VƯỢT THẮNG DỤC VỌNG CÔNG DANH
Anh là một
người rất ôn hòa nên không muốn biện luận, phân trần gì cả. Nhưng tâm từ bi và
trí tuệ học Phật của anh đã vượt thắng lòng ham muốn công danh, lợi lộc của thế
gian. Do đó anh đổi ngành học để không còn phải sát sinh trong việc nghiên cứu.
Anh lại phải
khó nhọc rất lâu, nhưng cuối cùng cũng có được học vị thạc sĩ. Do tích lũy sự mệt
nhọc lâu ngày thành bệnh, và anh mắc bệnh ung thư máu. Anh đã trải qua đủ mọi
cách xét nghiệm khổ sở, anh cũng biết được trình trạng vô phương cứu chữa của
mình nên từ chối nhập viện.
Anh kiên trì
ăn chay trường, kiên trì và chí tâm niệm Phật. Trong thời gian này, anh lại tiếp
tục đeo đuổi học vị tiến sĩ ở trường đại học Wisconsin tại Hoa Kỳ. Ở vào tình
trạng bệnh tật như anh, đối với người khác hẳn đã không thể nào duy trì được ý
chí và nghị lực, nhưng cuối cùng anh vẫn lấy được học vị tiến sĩ ở trường đại học
Wisconsin.
Trong khi
theo đuổi việc học tập, cho dù bận rộn đến đâu anh cũng không từ bỏ việc sớm tối
tụng kinh, niệm Phật. Nhờ sức Phật gia hộ, cũng như nhờ sức công đức giữ giới
không sát sinh, thành tâm niệm Phật, khiến anh có thể duy trì được cuộc sống an
lạc, bình thường. Đây là một sự cảm ứng âm thầm không thể nghĩ bàn. Cuối cùng,
anh đã khỏi hẳn bệnh ung thư máu trước sự ngạc nhiên của giới y khoa.
PHÓNG SINH
LÀ CỨU LẤY SINH MẠNG CỦA CHÍNH MÌNH
Qua câu chuyện
của người bạn nói trên, tôi nhận ra rằng ai có tâm từ bi thì người đó có một
phước báu đặc biệt. Phóng sinh chính là sự khai phóng, sinh khởi lòng từ bi.
Anh thà từ bỏ học vị mà mọi người mong muốn để giữ lại mạng sống cho những con
chuột thí nghiệm. Khi làm như vậy, anh vốn cũng không có chỗ mong cầu, chỉ vì
không đành lòng trước nỗi đau khổ của chúng sinh, lại tôn trọng giới luật của đức
Phật nên quyết không sát sinh.
Anh đã ở vào
tình trạng kiên quyết “thà trì giới mà chết”, nhưng kết quả ngược lại đã không
chết mà cũng không phải khổ! Anh hiện nay còn có thể đi đến các nơi trên thế giới
để diễn giảng học thuật, sắc mặt cũng hồng hào, bình thường trở lại.
TIỀN BẠC, HỌC
VỊ ĐỀU KHÔNG ĐỔI ĐƯỢC MẠNG SỐNG
Khi mạng sống
của chúng ta kết thúc, cho dù tiền bạc có nhiều bao nhiêu, học vị có cao bao
nhiêu cũng không cách nào mua lại được một phút sinh mạng. Sinh mạng đáng quý
như vậy, cho dù là một con trùng nhỏ, chúng ta cũng không cách nào khiến nó đã
chết rồi sống lại. Cho nên khi nó còn sống, phải biết trân quý, tôn trọng sự sống
tự do, an ổn của nó.
Lúc bình thường,
chỉ cần dùng rất ít tiền bạc là có thể cứu giúp, tránh được sự sợ hãi của loài
vật khi bị giết, có thể đem lại cho nó sự sống, sao ta lại không chịu làm? Nếu
chúng ta thử đặt mình vào tâm trạng phải đối diện với cái chết, hoặc bỗng nhiên
mạng sống bị rơi vào trong tay kẻ khác, sắp bị giết hại, thì chúng ta sẽ cảm nhận
ngay được tâm trạng khát vọng, mong mỏi được phóng sinh như thế nào!
Không nỡ để
chúng sinh khổ,
Không nỡ để
thánh giáo suy.
Do nhân
duyên như vậy,
Phát khởi
tâm đại bi.
TÂM TRẠNG CỦA
NGƯỜI SẮP BỊ GIẾT HẠI
Có một người
họ Hứa làm việc ở trường trung học Đông Sơn. Một hôm, ông ở lại trong ký túc xá
của nhà trường. Ban đêm, có một bọn trộm lẻn vào, bắt ông trói lại và bịt kín mắt.
Trong bóng tối, ông nghe bọn chúng bàn với nhau là phải giết chết ông, vì ông
đã thấy mặt bọn chúng, e rằng sẽ gây bất lợi về sau. Bọn cướp tay cầm hung khí,
trói gô ông lại. Ông thuật việc đó như sau:
“Tuy chỉ có
ba tiếng rưỡi đồng hồ mà đối với tôi như cả một đêm dài dằng dặc, dài nhất
trong cả cuộc đời tôi...”
Ông trải qua
một tâm trạng cực kỳ kinh sợ, rối loạn, chẳng khác nào một con vật đang chờ đợi
bị giết. May sao, trong lúc hoảng hốt đó ông chợt nhớ đến đức Phật A-di-đà, nhớ
đến thế giới Cực Lạc là nơi mình có thể sinh về. Do đó, ông vội một lòng niệm
Phật, cầu Phật tiếp dẫn vãng sinh. Không ngờ, ông niệm Phật hồi lâu thì bọn cướp
cuối cùng đổi ý không giết ông, kéo nhau bỏ đi.
Tâm trạng được
sống sót sau khi đối diện với cái chết thực sung sướng làm sao! Ông họ Hứa này
từ đó về sau hết sức đề xướng, cổ động cho việc không sát sinh, làm việc phóng
sinh. Bản thân ông đã cảm nhận một cách sâu sắc rằng: giảm một phần nghiệp giết
hại là thêm một phần khí chất từ bi, an lành; cũng như công đức niệm Phật thật
không thể nghĩ bàn, có thể khích lệ người phát tâm từ bi và thay đổi nhân quả xấu
ác cho cả hai bên.
LỜI KẾT
Thời mạt
pháp suy vi, yêu ma mê hoặc mọi người. Thường thường nghe nói việc giới sát
phóng sinh là hành vi ngu si chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, hy vọng mọi người
có thể thâm thiết thể hội và suy nghĩ: Đức Phật lẽ nào có thể nói dối hay sao?
Các vị Tổ sư như Trí Giả, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ấn Quang... lẽ nào là ngu si cả
hay sao?
Hàng ngàn,
hàng vạn sự thực chứng cảm ứng về việc giới sát phóng sinh từ xưa nay vẫn còn
rành rành, đó là giả tạo hay sao? Hy vọng chúng ta có thể thấu hiểu sâu sắc được
tấm lòng của các bậc thánh nhân, hiểu rõ đạo lý sâu xa. Nguyện cho tất cả mọi
người đều thấu hiểu sâu xa, nỗ lực đề xướng việc phóng sinh, nắm lấy cơ hội
thân người khó được này để tuyên dương, vận động cho việc giới sát, phóng sinh,
mang lại sự sống yên vui cho muôn ngàn sinh mạng. Đó mới thật là một việc làm
vô cùng vĩ đại, xưa nay hiếm có!
PHẦN II. NHỮNG
CÂU CHUYỆN PHÓNG SINH
A. PHÓNG
SINH ĐƯỢC PHƯỚC BÁU
TÂM TỪ BI
CHUYỂN HÓA CÔN TRÙNG
Câu chuyện
sau đây được ghi lại theo lời kể của Đại đức Thích Nhuận Châu. Thầy hiện nay
đang tu học tại Tịnh thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm.
Đại đức
Thích Nhuận Châu từ khi mới xuất gia theo học với Thượng tọa Thích Quảng Hạnh,
cùng với một số huynh đệ khác tu tập tại chùa Đức Sơn, thuộc huyện Tân Thành, tỉnh
Bà Rịa Vũng Tàu. Vào những năm cuối thập niên 1980, chùa được xây dựng trong
vùng dân mới lập nghiệp, điều kiện kinh tế nói chung còn rất khó khăn. Dân cư
trong vùng đa số chỉ sống nhờ vào nông nghiệp. Nhà chùa cũng có được một khoảnh
đất khá rộng để trồng tỉa, tự túc một phần lương thực cho đồ chúng.
Vụ mùa năm ấy,
cũng như thường lệ, quý thầy trồng đậu phộng để ép dầu ăn quanh năm. Khi đậu vừa
lên xanh tốt, bỗng thấy bắt đầu xuất hiện nạn sâu rầy ăn lá, khiến cho những
cây đậu đang tươi tốt chẳng bao lâu trở thành vàng vọt, không phát triển. Những
người nông dân quanh đó liền lập tức sử dụng thuốc trừ sâu phun xịt liên tục.
Vì thế, đám đậu phộng của nhà chùa trở thành nơi trú ẩn của đám côn trùng.
Trong khi những ruộng đậu chung quanh ngày càng xanh tốt trở lại thì ruộng đậu
của chùa vẫn cứ vàng vọt, tưởng như sắp chết cả.
Mấy chú tiểu
trong chùa thấy vậy nóng lòng, muốn sử dụng thuốc trừ sâu để cứu lấy ruộng đậu,
nhưng thầy Nhuận Châu và các thầy khác đều ngăn lại. Quý thầy nói: “Vì sự sống
của mình mà diệt sự sống của muôn loài, như vậy đâu có hợp với lòng từ bi của
nhà Phật? Huống chi, ruộng đậu này có mất sạch thì chúng ta cũng chưa đến nỗi
phải chết, vậy sao lại nỡ dứt đi con đường sống của muôn vạn côn trùng?”
Tuy nói thì
nói vậy, nhưng trong điều kiện kinh tế khó khăn khi ấy, phần thu hoạch mỗi năm
của đám đậu phộng này là một phần chính yếu cho sự sống của tăng chúng trong
chùa, nên quý thầy cũng không khỏi lo lắng. Vì thế, mấy hôm sau thầy Nhuận Châu
liền mời thêm mấy thầy nữa cùng đi lên đám đậu phộng. Thầy đứng ở đầu đám đậu
phộng, lâm râm khấn nguyện rằng: “Hết thảy các chúng sinh côn trùng xin hãy
nghe đây. Quý vị cũng vì sự sống mà nương náu nơi đây. Chúng tôi cũng vì sự sống
mà phải gieo trồng đám đậu phộng này. Nay chúng tôi không đành lòng làm hại quý
vị, chỉ mong quý vị hạn chế sự tàn phá, để tăng chúng trong chùa còn thu hoạch
được đôi chút.” Khấn nguyện như vậy rồi, các thầy cùng nhau trì chú Đại bi ngay
tại đám đậu phộng, cầu sức gia hộ của thần chú để chuyển hóa tình trạng bế tắc
này.
Thật kỳ diệu!
Khoảng vài tuần sau đó, khi ra thăm lại đám đậu phộng, quý thầy đều ngạc nhiên
khi thấy sự tàn phá trên đám đậu phộng dường như không còn nữa. Đám đậu phộng
tuy vẫn chưa hết màu vàng vọt nhưng đã thấy đâm lá non và phát triển đôi phần.
Kỳ lạ hơn nữa,
đến vụ thu hoạch thì mỗi gốc đậu của nhà chùa đều sai trái, chắc hạt, dù cây đậu
rất vàng vọt, ốm yếu. Trong khi đó, những đám đậu quanh đó tuy xanh tốt, rậm rạp
nhưng khi nhổ lên lại chẳng được mấy trái! Năm ấy, chùa Đức Sơn được một mùa bội
thu kỳ diệu, và cũng được một bài học thực tế vô cùng quý giá rằng lòng từ bi
có thể chuyển hóa được tất cả.
THỰC HÀNH
PHÓNG SINH CHUYỂN HÓA ĐƯỢC GIA ĐÌNH
Cách đây ít
lâu, tôi lại có dịp ghé thăm thầy Nhuận Châu và vô cùng ngạc nhiên khi thấy thầy
đang sử dụng một chiếc máy tính xách tay đời mới nhất! Là những người làm công
việc biên khảo và dịch thuật kinh điển, chúng tôi ai cũng ao ước có được một
chiếc máy tính xách tay cấu hình mạnh, vì như vậy sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công
việc, nhất là những khi có việc phải đi lại nhiều nơi. Tuy nhiên, với một tăng
sĩ sống đời đạm bạc như thầy Nhuận Châu mà có tiền để mua chiếc máy tính xách
tay này thì quả là điều khác lạ. Dù được quen biết thầy đã lâu, nhưng tôi cũng
thấy khó hiểu được sự kiện này.
Khi tôi đánh
bạo thưa hỏi, thầy bật cười vui vẻ rồi nói: “Chuyện dài lắm, nhưng nói tóm một
điều là tôi làm gì có tiền để ‘xài sang’ đến thế! Chiếc máy tính này là của một
người Phật tử mua gửi cúng dường cho tôi. Còn nhân duyên vì sao mà có sự cúng
dường này tôi sẽ kể cho anh nghe. Tôi nghĩ, khi nào có dịp anh cũng nên kể lại
cho nhiều người cùng biết.”
Và rồi thầy
chậm rãi kể lại cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện.
Số là, cách
đây khoảng một năm, có một nữ Phật tử là Việt kiều về thăm quê, được một người
đệ tử của thầy Nhuận Châu giới thiệu về thầy nên sau khi trở về nhà ở nước
ngoài liền viết cho thầy một bức thư khá dài. Trong thư, bà than vãn về vô số
những chuyện rắc rối gần đây liên tục xảy ra với gia đình bà, nhất là những bất
đồng giữa mọi người trong gia đình mà hầu như chẳng bao giờ có thể thấy được
nguyên nhân rõ ràng. Cuối cùng, bà khẩn thiết xin thầy một lời chỉ dạy, một lời
khuyên bảo, rằng bà phải làm gì để có thể sớm giải tỏa được những khó khăn
trong cuộc sống như thế này?
Thầy Nhuận
Châu nói: “Thú thật, có lẽ đây là yêu cầu khó nhất đối với tôi từ xưa nay. Tôi
chưa từng biết qua người nữ Phật tử này cũng như gia đình của bà, càng không thể
hiểu được nội tình những sự rắc rối, khó khăn mà bà đang gánh chịu. Như vậy làm
sao có thể giúp bà ấy một lời khuyên cụ thể? Nhưng bà cứ một mực đặt niềm tin
nơi tôi, khẩn thiết cầu mong tôi chỉ giúp cho bà một lối thoát trong hoàn cảnh
bế tắc hiện tại. Vì thế, tôi nghĩ chỉ có một phương pháp duy nhất là phải tạo
phước đức để hóa giải những tội nghiệp từ trước. Mà muốn tạo phước đức một cách
nhanh chóng nhất thì không gì bằng thực hành phóng sinh. Thế là tôi viết thư
cho bà ấy, khuyên bà hãy kiên trì thực hành hạnh phóng sinh trong 6 tháng, sau
đó hãy viết thư cho tôi biết kết quả. Ý tôi là sau thời gian này, với hạt giống
thiện căn đã gieo trồng, hy vọng bà ta có thể sẽ sáng suốt hơn trong việc nhìn
lại vấn đề. Và như vậy tôi mới có thể giúp bà đưa ra một lời khuyên, một giải
pháp cụ thể nào đó...”
Sáu tháng
sau, quả nhiên thầy nhận được thư trả lời của người nữ Phật tử này. Kết quả
hoàn toàn bất ngờ. Thầy không cần phải đưa ra thêm bất cứ một lời khuyên nào
khác, vì bà ta không còn đòi hỏi gì hơn nữa ngoài việc hết lời cảm ơn sự chỉ dạy
của thầy. Mọi vấn đề đều đã được giải quyết một cách tốt đẹp đến không ngờ. Và
hiện tại bà ta vẫn tiếp tục thực hành việc phóng sinh như một phần trong cuộc sống
hằng ngày. Câu chuyện được bà kể lại như sau.
Với sự hướng
dẫn chi tiết trong thư của thầy Nhuận Châu, người nữ Phật tử này lập tức kính cẩn
làm theo. Bà dành nhiều thời gian và tiền bạc để tìm mua các loài vật như chim,
cá... và thả cho chúng trở về với tự nhiên. Chồng bà là một người nước ngoài,
thấy bà làm như vậy thì lấy làm lạ, liền hỏi nguyên do. Theo lời dạy của thầy,
bà nói rằng làm như vậy để được phước đức, cầu sự an ổn trong gia đình. Chồng
bà không tin lắm, nhưng cũng không có ý cản trở. Không ngờ chỉ ít lâu sau đó,
ông ta chợt nhận ra một điều lạ là mỗi khi họ dừng xe ở đâu đều có những bầy
chim bay đến đậu quanh đó, cất tiếng kêu ríu rít. Khi xe lăn bánh rồi chúng vẫn
còn bay theo một đoạn xa như tiễn biệt. Rồi ít lâu sau nữa, sáng nào khi họ chạy
xe ra khỏi nhà cũng đều có những con chim bay đến chào mừng.
Người chồng
bắt đầu tin rằng việc phóng sinh không phải là vô ích. Ông đã nhận ra rằng loài
vật cũng có những tình cảm và sự biết ơn không khác loài người. Vì thế, ông
cũng bắt đầu cùng tham gia vào việc mua chim phóng sinh với vợ mình. Khi cùng
nhau làm việc này, tình cảm của họ đối với nhau bắt đầu thay đổi rõ rệt. Cả hai
đều trở nên hòa nhã và biết lắng nghe, luôn tôn trọng và cảm thông với nhau. Những
bất đồng giữa họ hóa ra chẳng có gì là phức tạp và khó giải quyết cả. Nhờ có dịp
tìm đến tiếp xúc với những con vật trong điều kiện bị bắt nhốt, bị giam cầm, bị
đe dọa mạng sống, nên họ mới nhận ra rằng cuộc sống tự do của họ là đáng trân
quý biết bao nhiêu. Và những va chạm xích mích hằng ngày trước đây đều trở nên
vụn vặt không đáng kể khi so với sự may mắn lớn lao là họ đang được sống khỏe mạnh
và tự do, không bị giam cầm hay đe dọa đến mạng sống. Nhờ vậy, chỉ trong một thời
gian ngắn sau đó thì hai người đã trở nên một cặp vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận.
Dần dần, có
những con chim tìm đến làm tổ quanh nhà họ, vì dường như chúng cảm thấy rằng sẽ
được an ổn, được che chở. Thế là họ liền nghĩ đến việc mua thực phẩm để cho
chúng ăn vào mỗi buổi sáng. Sân nhà của họ không bao lâu trở thành một sân chim
vào mỗi sáng, và cả hai đều không ngờ rằng việc “nuôi chim” lại có thể mang đến
cho họ niềm vui vô cùng lớn lao như vậy. Chỉ cần nhìn những con chim thật dễ
thương nhảy nhót vui vẻ và vô tư trên sân, không một chút lo lắng hoảng hốt, họ
cảm thấy như mọi sự mệt nhọc của công việc đều tan biến.
Một thời
gian sau, công việc đòi hỏi họ phải chuyển đi một nơi xa, đành phải bán căn nhà
đang ở. Lúc này, với tâm từ bi đã được nuôi dưỡng trong thời gian qua, họ thực
sự lo lắng cho đàn chim khi không có họ nơi đây. Vì thế, họ đã đưa ra một điều
kiện trước khi chấp nhận bán nhà là người chủ mới phải cam kết bảo vệ đàn chim
quanh nhà. Ngoài ra, họ còn trích từ tiền bán nhà ra một số tiền lớn và để lại
cho người chủ mới để mua thực phẩm cho chim ăn. Người mua nhà hết sức ngạc
nhiên trước những yêu cầu của những người bán nhà mà ông ta cho là quá kỳ lạ,
nên cố gạn hỏi nguyên do. Sau khi nghe hai vợ chồng người “nuôi chim” này kể lại
cặn kẽ mọi việc xảy ra kể từ khi họ thực hành phóng sinh, thật bất ngờ là người
mua nhà liền phát tâm sẽ bỏ tiền mua thực phẩm cho chim ăn mà không cần hai vợ
chồng người kia phải để lại số tiền ấy.
Sau khi viết
thư kể lại cho thầy Nhuận Châu nghe về mọi sự chuyển biến trong thời gian thực
hành phóng sinh theo lời dạy của thầy, vị nữ Phật tử kia cũng bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc và mong muốn được kính biếu thầy một món quà nhân dịp này. Được nghe
nói về công việc biên khảo và dịch thuật của thầy, bà quyết định mua gửi tặng
thầy một chiếc máy tính xách tay đời mới nhất.
Có một điều
thú vị là, cho đến nay thầy Nhuận Châu vẫn chưa từng gặp mặt vị nữ thí chủ kia!
THẢ CÁ ĐƯỢC
THOÁT NẠN
Có một người
đáp thuyền đi xa. Lên thuyền, nhìn thấy có hai con cá đang bơi lội rất vô tư
trong một cái thùng, có thể đến trưa sẽ bị giết để nấu nướng. Người ấy động
lòng mới nói với chủ thuyền: “Anh bán hai con cá này cho tôi đi!” Chủ thuyền
đáp: “Được, nhưng giá 2 con cá này rất đắt, đến 300 đồng. Lúc nào anh muốn ăn,
tôi sẽ làm thịt nấu nướng giúp anh.” Người ấy vui vẻ lấy ra 300 đồng tiền đưa
cho chủ thuyền để mua hai con cá, lại nói rằng: “Hôm nay tôi không thích ăn cá,
xin ông đừng nấu.”
Cách một
ngày sau, chủ thuyền lại hỏi: “Hôm nay nấu cá cho anh ăn nhé?” Người ấy lúng
túng trả lời: “Đừng! Đừng! Hôm nay tôi ăn chay!” Thật ra anh ta không ăn chay,
nhưng chẳng qua muốn viện lý do để không phải giết chết hai con cá đang bơi lội
trong thùng, nên mới nói dối rằng mình ăn chay. Rồi anh ta thả cá xuống sông,
trả lại mạng sống và sự tự do cho chúng.
Lại cách một
ngày sau, thuyền đang giong buồm trên sông, bỗng cuồng phong nổi dậy, sóng cao
ngút trời, cả thuyền đều sợ khiếp vía. Đang lúc mọi người hốt hoảng quỳ lạy khẩn
cầu Trời Phật cứu mạng, bỗng nhiên thấy từ trên mây hiện ra hai chữ “giả chay”.
Mọi người ai cũng thấy rất rõ. Có người liền hỏi lớn: “Trên thuyền chúng ta có
người nào giả chay?” Hỏi đến mấy lần như thế thì người ấy nghĩ thầm: “Chắc là
mình giả ăn chay, xúc phạm luật trời. Nếu giấu không nói ra ắt là làm hại tất cả
mọi người.” Nghĩ vậy rồi lập tức lớn tiếng trả lời: “Là tôi, là tôi đây!” Mọi
người đều nói: “Vậy ông nhảy xuống nước đi.” Rồi hè nhau xô đẩy anh ta xuống nước.
Bỗng đâu trên mặt sông trôi đến một tấm ván lớn. Người ấy vừa bị đẩy xuống
sông, bắt được tấm ván liền bám chặt vào một cách an toàn. Ngay khi ấy, một trận
gió lớn đẩy anh tấp vào bờ và được người cứu sống. Nhìn lại chiếc thuyền kia
không chịu nổi sóng to gió lớn đã lật úp, toàn bộ những người trên thuyền đều
chết chìm, làm mồi cho cá.
Chúng ta thử
nghĩ xem, người giả ăn chay này, chính nhờ khởi lên một niệm từ bi làm việc
phóng sinh mà hóa ra đã cứu được mạng sống của chính mình!
DÙNG VOI CHỞ
NƯỚC
Từ khi đức
Phật Thích-ca Mâu-ni giáng sinh nơi cõi đời ô trược này, thuyết pháp giáo hóa
muôn loài, chúng sinh mới hiểu được lý nhân quả báo ứng, sát sinh, phóng sinh.
Trong kinh Kim Quang Minh, phẩm Lưu thủy trưởng giả tử có nói về tiền thân của
ngài khi còn hành đạo Bồ Tát, đã trải lòng từ bi dùng voi chở nước cứu mạng
chúng sinh. Câu chuyện như sau.
Thuở xưa, ở Ấn
Độ có một hiền giả, là con của một vị trưởng giả, có lòng nhân từ. Ngày kia,
nhân có việc ra ngoài, nhìn thấy bên cạnh núi có một ao nước rộng lớn đang bị
khô cạn. Trong hồ, có một đàn cá đến hàng vạn con đang sống. Trên trời thì nắng
gắt, còn dưới ao lại cạn khô dần trong nay mai, tất cả những con cá đều đang nằm
thoi thóp chờ chết.
Vị hiền giả
thấy rồi liền sinh lòng thương xót, lập tức về triều, vào cung yết kiến quốc
vương, xin vua mở rộng lòng từ bi cấp cho 20 con voi trắng lớn để vận chuyển nước
về đổ vào ao, giúp cho những loài động vật kia thoát nạn khô cạn. May thay! Vị
quốc vương này là đệ tử Phật, trước đã quy y Tam bảo. Sau khi nghe lời cầu thỉnh
của vị hiền giả, quốc vương hoan hỷ chuẩn tấu.
Sau đó, hai
cha con hiền giả cùng đi đến quán rượu, mượn nhiều bình chứa rượu lớn, cho nước
vào đầy rồi dùng voi chở đến đổ vào ao khô. Cứ mang nước đến rồi trở về lấy nước,
nhiều lần qua lại mà không cảm thấy mệt nhọc chút nào, chỉ nghĩ đến sự sống còn
của bầy cá dưới ao mà cố gắng không ngừng. Ông trời hình như cảm động tấm chân
tình đó, nên đã bắt đầu rưới xuống những trận mưa lớn, thấm nhuần muôn loài
cùng vạn vật, ban sự sống cho muôn vạn sinh linh. Cuối cùng, hàng vạn mạng sống
trong hồ đã được cứu sống. Vị hiền giả thấy thế lòng vô cùng hoan hỉ, lại còn
vì đàn cá nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã... Đàn cá số đông đến mười
ngàn con, đã có phúc duyên được cứu sống lại nhờ nghe pháp, hiểu rõ lý nhân quả
báo ứng, phát tâm bỏ ác làm lành, nên ngay trong ngày cùng bỏ thân cá, thần thức
thác sinh lên cõi trời Đao-lợi, hưởng phước vô cùng.
SA DI CỨU
ĐÀN KIẾN
Chuyện kể rằng
có chú sa-di là đệ tử của một bậc cao tăng. Vị này đã tu chứng Túc mạng thông,
biết đệ tử của mình sẽ bị chết yểu và thời gian sống chỉ còn 7 ngày thôi. Ngài
bèn gọi chú sa-di đến cho phép về gia đình thăm mẹ và người thân, dặn đến ngày
thứ tám hãy trở lại chùa. Bổn ý của ngài là muốn chú sa-di khi từ giã trần gian
này được chết trong vòng tay ấm cúng của gia đình, bên cạnh người thân.
Khi thăm mẹ
và người thân xong, chú sa-di trở về chùa đúng thời hạn quy định. Vị thầy thấy
đệ tử chẳng những không chết mà dung mạo lại thêm tươi tắn, trong lòng cảm thấy
kỳ lạ. Ngài liền nhập định tìm xét lý do. Hóa ra, chú sa-di trên đường trở về
thăm nhà gặp một trận mưa lớn, nên tìm nơi trú. Sau khi hết mưa, chú định tiếp
tục lên đường, chợt thấy bên hè nhà có một đàn kiến rất đông đang bị nước cuốn
trôi. Chúng cố dùng chân quờ quạng tìm chỗ bám víu, cố chống chọi với cơn đại nạn.
Có con vì yếu sức đành buông xuôi, mặc cho dòng nước cuốn trôi số phận nhỏ nhoi
của mình. Thấy rồi, chú sa-di chạnh nghĩ: “Bầy kiến kia nào có khác chi người,
cũng đang cố gắng giành giật lấy sự sống trong tự nhiên. Trong lúc gian nan
nguy cấp này, sao ta lại không cứu giúp?” Thế là, chú sa-di nhặt một cành cây
bên cạnh bắc qua làm cầu, lần lần cứu đàn kiến ra khỏi dòng nước.
Khi ấy, vị
thầy liền gọi chú sa-di đến và nói: “Ta cho con về quê thăm mẹ là vì biết mạng
sống của con chỉ còn không quá 7 ngày. May nhờ con biết khởi lòng từ bi cứu sống
cả đàn kiến đông đảo, nên công đức lớn lao ấy đã giúp con được kéo dài tuổi thọ,
được thêm tướng tốt”.
Quả nhiên, về
sau chú sa-di ấy thọ đến 80 tuổi. Và sau sự việc đó chú càng tinh tấn tu hành,
chứng được quả A-la-hán, vĩnh viễn dứt mọi nỗi khổ trôi lăn trong sáu đường.
THẦY ĐỒ THẢ
CÁ LÝ NGƯ
Ở tại địa
phương kia có một thầy đồ họ Khuất. Một hôm đang đi dạo bên bờ sông, thấy ngư
phủ câu được một con cá lý ngư màu đỏ, định đem ra chợ bán. Khi nhìn con cá
đang giãy giụa, thầy Khuất bỗng khởi lòng từ bi, thấy như ánh mắt đau đớn của
nó đang hướng về thầy cầu cứu. Lòng không nỡ nhìn thấy cảnh ấy, thầy liền bỏ tiền
mua lại con cá, xong đem đến chỗ vắng thả lại xuống sông.
Về sau, thầy
mang chứng bệnh trầm trọng, sắp phải qua đời. Một đêm, đang nằm thoi thóp trong
phòng, bỗng mơ thấy có một người tướng mạo oai phong lẫm liệt, tự xưng là Long
vương. Long vương bảo thầy Khuất: “Thọ mạng của tiên sinh lẽ ra đến đây đã dứt,
song vì thầy có lòng từ bi cứu mạng con ta là thái tử Long cung nên được phước
báu, có thể sống thêm 12 năm nữa.” Nói xong biến mất. Năm ấy, Khuất tiên sinh mới
được 48 tuổi.
Thầy Khuất tỉnh
dậy, bệnh tật dường như tiêu mất, trong người khỏe khoắn bình thường. Từ đó tiếp
tục sống cho đến 60 tuổi, rồi không bệnh mà chết, con cháu đông vầy, nhiều đời
vinh hiển.
BẦY CHIM
CHÔN CẤT ÂN NHÂN
Tôn Lương vốn
là người quê mùa nhưng lòng dạ rất nhân hậu, tuy cảnh nhà nghèo túng nhưng thường
làm việc cứu vật phóng sinh.
Mỗi lần đi
đâu, thấy những con chim bị người giăng bẫy bắt nhốt trong lồng, ông liền đem tiền
dành dụm mua chim rồi thả chúng bay đi. Lúc mở cửa lồng để thả chim, nghe tiếng
chim kêu ríu rít, rồi bay lượn vòng trên hư không trông rất tự do tự tại, lòng
ông cảm thấy vui thích, khoan khoái. Và như thế, ông cũng không biết là mình đã
thả được bao nhiêu bầy chim rồi, cho dù cuộc sống của ông vẫn nghèo thiếu.
Ông mất vào
năm 70 tuổi. Do không có người thân cũng không có bằng hữu, lại thêm gia cảnh
nghèo khó nên không có tiền của để lại lo việc tang ma, không người chôn cất.
Cuối cùng, người ta đem thi thể của ông bỏ nằm ở vùng núi ngoài thành, trông rất
thê thảm.
Bỗng dưng,
có một bầy chim cả ngàn vạn con cùng bay đến, đông rợp cả bầu trời. Trong miệng
mỗi con ngậm một cục đất, bay nhả thành hàng trên thi thể của Tôn Lương. Không
quá một ngày đã chất đầy đất lên như một ngọn đồi lớn.
Tôn Lương đã
được an táng một cách hy hữu như thế. Mọi người chung quanh thấy việc kỳ lạ, họ
cố tìm nguyên nhân. Cuối cùng mới hiểu, do vì lúc sanh tiền Tôn Lương thường
mua chim phóng sinh, bầy chim cảm ơn cứu mạng nên ngậm đất đắp mộ để báo đáp.
PHÓNG SINH
TĂNG TUỔI THỌ
Niên hiệu Đạo
Quang nhà Thanh (1821-1850), có vị Thái thú Đồ Cầm Ô, trước lúc làm quan đã từng
bệnh rất nặng, lại thêm uống nhầm thuốc nên suýt phải mất mạng. Trong lúc nguy
ngập sắp từ trần, Thái thú phát nguyện: “Nếu được tai qua nạn khỏi, nguyện sám
hối nghiệp chướng đã gây tạo, làm tất cả việc lợi ích cho mọi người.” Công danh
phú quí đối với ông giờ đây như nước chảy mây bay, không còn vướng bận nữa.
Đêm nọ, Thái
thú nằm mộng thấy đức Quán Âm Đại sĩ hiện ra nói rằng: “Đời trước ngươi đã từng
làm quan ở nước Sở, do xử lý công việc quá nghiêm khắc nên tổn thương đến lòng
nhân hậu. Tuy công tâm làm việc nhưng cũng bị quả báo giảm mất tước vị và bổng
lộc, thêm nữa là hay sát sinh hại vật nên đời nay quả báo phải bị chết yểu. May
sao trong lúc bệnh ngươi đã phát thệ nguyện kiên cố, niệm niệm đều mong được
làm lợi ích cho chúng sinh, không mảy may có tâm oán trách, nên thay đổi được
nghiệp báo, có thể tạm qua được cơn bệnh này. Nhưng chỉ có mỗi một việc phóng
sinh mới có thể tăng thêm phúc lộc và tuổi thọ, ngươi cần phải cố gắng.
Sau khi tỉnh
giấc, Thái thú ghi nhớ rõ ràng từng lời trong giấc mơ và hối hận về những lỗi lầm
của mình đã tạo từ trước, nên càng quyết tâm sửa ác tu thiện và cùng gia đình đồng
giữ giới không sát sinh, lại thường xuyên làm việc phóng sinh.
Mùa đông năm
ấy, vua ban chiếu lệnh đưa ông đến nhậm chức Thái thú Cửu Giang - Viên Châu.
Phước báo đến với ông quá bất ngờ, ân đức vượt trội, khiến ông càng tích cực
làm lành hơn nữa. Sang mùa đông năm sau, ông lành bệnh, lại còn khỏe mạnh hơn
xưa. Đó là do phước báo phóng sinh cảm nên vậy.
ĐƯỢC PHƯỚC SỐNG
LÂU
Trước kia, ở
Tô Châu có một người tên Vương Đại Lâm, cả đời rất thương mến loài vật. Bất kể
là loài vật nào ông cũng yêu thương và thường mua những con vật bị bắt đem
phóng sinh.
Khi thấy trẻ
em trong thôn làng bắt các loài vật như cá, chim để vui chơi, ông liền dùng lời
nhẹ nhàng khuyên răn, giải thích là làm như thế sẽ giảm lòng từ bi. Sau đó còn
đem tiền cho bọn trẻ để đổi lấy con vật, rồi tìm chỗ an toàn thả chúng đi.
Ông thường
khuyên nhủ thanh thiếu niên: “Khi còn trẻ, các con cần rèn luyện đức tính nhân
từ, thương mến sinh mạng chúng sinh, các con không nên nuôi dưỡng thói quen tàn
nhẫn, giết hại chúng nó.”
Đám trẻ
trong làng đều nghe theo lời khuyên dạy chân tình của ông, nên trở thành những
đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn, hiếu thảo, thương người. Cha mẹ, người thân của
chúng, ai cũng vui mừng khôn kể. Cho đến các bậc phụ huynh của những làng lân cận
thấy thế, cũng bắt chước phương pháp ấy mà dạy dỗ con mình.
Có thời
gian, Vương Đại Lâm bệnh nặng sắp chết, trong cơn mê sảng bỗng nghe có người
nói với ông: “Ông cả đời thương vật phóng sinh, phước báu và công đức vô lượng,
nên được tăng tuổi thọ, sống thêm 36 năm nữa”.
Sau đó, ông
được lành bệnh. Sống thọ đến năm 97 tuổi mới từ biệt cõi đời. Con cháu năm đời
đều vinh hiển và cùng sống chung trong một đại gia đình, thật hạnh phúc.
ĐÀO AO PHÓNG
SINH
Vào thời Trần
- Tùy, Đại sư Trí Khải là Tổ sư của tông Thiên Thai. Vua Tùy Dạng Đế kính ngài
là bậc đạo hạnh, nên ban hiệu là Trí Giả.
Đại sư cảm
thương cho sự tàn ác của người đương thời, giết hại muôn vạn sinh linh chỉ vì
tìm cầu chút vị ngon nhất thời của cái lưỡi. Ngài muốn khuyến hoá mọi người
phát triển tâm từ bi, nên đã cùng với nhiều đệ tử đi quyên góp khắp nơi. Số tiền
xin được, ngài mua một miếng đất rộng dài, ra sức đào ao thả cá, lại khuyên dạy
người đời giữ giới không sát sinh và phóng sinh. Đồng thời, ngài tâu lên triều
đình xin vua hạ lệnh cấm không được bắt cá trong ao. Đến niên hiệu Trung Quán
nhà Đường vẫn còn giữ nguyên lệnh ấy.
Sang các đời
vua khác, đều là các vị minh quân cùng các bậc cao tăng đồng xướng đạo dẫn đường
dạy mọi người tu Mười điều lành. Niên hiệu Càn Nguyên, đời vua Đường Túc Tông,
triều đình từng hạ chiếu ra lệnh cho các châu, huyện đều phải đào ao phóng
sinh. Niên hiệu Thiên Hi năm đầu, đời Tống Chân Tông, cũng hạ chiếu lệnh bắt mọi
người mở rộng việc đào ao thả cá. Tây Hồ ở Hàng Châu trước kia cũng là một ao
phóng sinh, hiện nay là một thắng cảnh danh tiếng tại Trung Quốc.
Khi nhà Minh
lên ngôi, Đại sư Liên Trì đã từng ở nơi đây tạo thêm hai ao phóng sinh, còn lập
bia ghi chép sự lợi ích của việc phóng sinh hộ vật, và truyền rộng khắp thiên hạ.
Từ đó cho đến nay, phong tục hay đẹp này đã ảnh hưởng sâu rộng trong nhân gian,
người có lòng nhân, phát tâm từ bi thật vô số kể.
THƯƠNG CON ĐỨT
RUỘT
Đời Tấn bên
Trung Hoa, tại xứ Nhữ Nam có một người tên Hứa Chân Quân, thuở thiếu thời có
thú vui săn bắn. Ngày kia, anh vào rừng săn thú, bắn trúng một nai con. Vừa định
buông cung đến bắt nai, bỗng đâu có bóng con nai lạ từ xa phóng lại gần xác nai
con, dùng miệng liếm trên vết thương của con vật. Nó không màng đến kẻ thù đang
đứng bên cạnh, bao nguy hiểm đang rình chờ, chỉ cất lên tiếng kêu sầu não và
bày tỏ cử chỉ yêu thương với con vật đã chết.
Hứa Chân
Quân nghĩ chắc đây là con nai mẹ, mới có cử chỉ trìu mến với chú nai nhỏ như thế,
nên cũng chạnh lòng thương cho tình mẫu tử của chúng nó. Chỉ lát sau, nai mẹ
ngã xuống đất chết. Hứa Chân Quân mang hai con nai trở về nhà, định xẻ thịt nấu
thức ăn, phần còn lại sẽ đem phơi khô làm lương thực khi cần. Anh dùng dao mổ bụng
nai mẹ trước, mới thấy là lá gan của nó đã nát ra, còn ruột thì đứt thành từng
đoạn nhỏ. Thấy rồi, Chân Quân cảm động cho tình mẫu tử sâu đậm của loài vật,
càng nghĩ càng thương đến ứa nước mắt. Từ đó, Quân vô cùng hối hận, bẻ gảy cung
tên và từ bỏ nghề săn bắn.
Tất cả loài
vật đều có tình mẫu tử thiêng liêng như con người không khác. Giây phút sinh ly
tử biệt, người mẹ nào không thương xót con mình. Hơn nữa, người mẹ còn bất chấp
cả nguy hiểm đang chờ, chỉ một bề muốn cứu con thoát khỏi hoạn nạn.
Nai mẹ kia
nào khác với con người, thương con đến tan nát cả ruột gan. Ôi! Trên đời còn có
gì sâu nặng hơn tình mẫu tử ư! Người ta sao nỡ vì miếng ăn ngon mà gây ra sự
chia lìa sinh ly tử biệt?
Về sau, Hứa
Chân Quân được tiến cử làm quan. Nhân ý thức cuộc danh lợi chỉ như sương trên đầu
ngọn cỏ nên đã sớm từ quan, lui về ở ẩn, theo thầy học đạo. Sau đó, ông chu du
khắp nơi cứu dân độ thế, dạy người làm lành, lánh dữ. Sau khi tạ thế, vẫn còn
hiển linh giúp dân. Vua Tống truy phong là Thần Công Diệu Tế Chân Quân, người đời
gọi là Hứa Chân Quân hay Hứa Tinh Dương.
B. SÁT SINH
CHỊU ÁC BÁO
ĐỨT LƯỠI VÌ
DAO MỔ TRÂU
Trước đây, ở
vùng Giang Tô, huyện Thường Thục, cạnh sông Hoàng Hà, trong ngôi nhà tranh
nghèo lụp xụp có một người sống bằng nghề giết trâu. Cứ mỗi lần người ấy sắp
làm thịt trâu, thì việc đầu tiên là cắt lấy lưỡi. Tội cho những con trâu bạc
phước, đang còn sống mà bị người cắt lấy lưỡi, đau đớn vô cùng, rống tiếng kêu
đau. Vậy mà người ấy không một chút động lòng, thản nhiên coi như chuyện bình
thường. Khi hoàn tất công việc, người ấy đem lưỡi trâu về nhà ngâm rượu, đúng
ngày đem ra nhâm nhi, hả hê với thức ăn đặc biệt do mình chế biến, chỉ riêng
trâu ngậm ngùi.
Có một hôm,
ông để con dao mổ trâu phía trên cánh cửa ra vào, chợt nghe tiếng hai con chuột
kêu rúc rích trên ấy. Tò mò, ông muốn biết xem chúng làm gì, nên bước lại gần
ngước đầu nhìn lên. Thì ra hai con chuột kia nghe mùi tanh từ con dao mổ, tưởng
là có thức ăn ngon nên đến tranh nhau, nào ngờ đụng vào con dao rơi xuống trúng
ngay miệng của người đồ tể ấy, khiến cho đầu lưỡi của ông đứt lìa. Ông đau đớn
giẫy giụa hồi lâu rồi mới chết.
Người đồ tể
kia một đời sát sinh hại vật, thói quen thành nghiệp, nên dửng dưng trước những
đau đớn của loài vật. Ưa thích rượu thịt, cắt lưỡi chúng sinh, tội nhiều biết
bao! Nếu ông hiểu được lý nhân quả nghiệp báo thì có lẽ đã lường trước được sự
báo ứng mà dè dặt trong hành động, không để cho tâm hiếu sát sai khiến, hẳn đã
biết dừng dao tạo nghiệp, không gây thương tổn cho loài vật như thế!
ĐAU ĐỚN SUỐT
SUỐT BA THÁNG
Nơi miền
Giang Tô, thuộc trấn Nam Tường, huyện Gia Định, bên cạnh sườn núi phía nam, có
một người tên Tào Thăng Nguyên, rất thích ăn thịt chó, thường giết chó để ăn thịt.
Hôm ấy, Tào
Thăng Nguyên đem con chó đã giết chết ngâm vào trong chậu nước, đang lúc tính
toán sẽ phân chia thịt chó ra mấy phần. Bỗng con chó từ trong chậu nước ngồi bật
dậy nhảy cao khoảng một thước, đầu sấn vào Tào Thăng Nguyên há miệng thật lớn cắn
một cái, máu từ thân người của hắn chảy ra dầm dề. Quá đau đớn nên hắn hôn mê bất
tỉnh. Trong cơn mê hắn nhớ lại tất cả cảnh hắn đã từng giết chó, và bị vô số
chó chạy theo rượt cắn, nên sợ hãi kêu la. Người bàng quan không một ai dám
nhìn tình trạng thê thảm của hắn.
Sau khi Tào
Thăng Nguyên bị chó cắn, kiếm tìm thầy thuốc trị bệnh, nhưng thuốc thang đều vô
hiệu, bệnh không chút thuyên giảm. Thế rồi, vết thương càng ngày càng thêm lở
loét, đau nhức thấu ruột gan, kêu khóc suốt ngày đêm, trọn ba tháng rồi mới chết.
Quanh vùng ấy, những người thích ăn thịt chó, thấy sự việc xảy ra như thế, lòng
lo sợ bị quả báo nên không dám giết chó ăn thịt nữa.
CẮT LƯỠI THÚ
VẬT – CON BỊ KHUYẾT TẬT
Trong sách
Pháp Uyển Châu Lâm có ghi: Đời Đường Cao Tổ, niên hiệu Vũ Đức, có một nông phu
rất hung ác. Sáng nọ, như thường lệ ông ra thăm đồng ruộng. Từ xa, ông trông thấy
con trâu của nhà hàng xóm đang nhởn nhơ ăn lúa và giẵm đạp lên đám ruộng tươi tốt
của ông. Giận quá, ông chạy đến nắm chặt lấy đầu trâu, lấy dây dàm quấn vào lưỡi
trâu rồi dùng sức kéo mạnh một cái. Tức thời, lưỡi con vật bị đứt lìa, trông
tình trạng của con vật trông thật thê thảm, đáng thương. Miệng đầy máu tuôn ra
xối xả, khua dậm chân nhìn thấy rất đau đớn, nhưng hình như biết lỗi nên không
dám rên la. Mọi người thấy vậy đến vây quanh xem rất đông. Thấy thảm cảnh của
con trâu, ai nấy đều chỉ trích sự tàn nhẫn của người kia.
Thời gian
sau, người nông phu ấy lập gia đình, sinh được ba đứa con. Cả ba đứa trẻ đều bị
câm. Mọi người nhân sự việc này mà xét đoán lý nhân quả. Bởi do lòng dạ tàn nhẫn
mà ngay trong cuộc sống hiện tại của người nông phu kia bị chiêu cảm quả báo
đau khổ như thế. Lý nhân quả không sai chạy chút nào.
NGƯỜI TÀN ÁC
CHẾT ĐAU ĐỚN
Trước đây có
một vị tri huyện họ Trương, đặc biệt thích ăn món chân ngỗng và trái tim của
con dê còn sống.
Mỗi lần muốn
ăn món chân ngỗng, trước tiên ông sai người bắt ngỗng bỏ vào chảo sắt, sau đó đốt
lửa. Nhưng phải là lửa lớn thì chân ngỗng mới ngon. Do vậy, ngọn lửa từ dưới lò
được quạt cháy dữ dội, đỏ rực một vùng. Thương cho con ngỗng bị sức nóng của lửa
đốt, hoảng hốt nhảy loạn cả lên. Nó quạt đôi cánh cố vùng lên khỏi nắp chảo,
xoay bên này, bên kia, miệng kêu la nghe rất thảm. Ban đầu con ngỗng còn phản ứng
mạnh, nhưng dần rồi nó quằn quại trong lòng chảo nóng, đến nỗi không còn cất tiếng
kêu được nữa. Đôi chân của nó bị đốt phồng to lên, máu toàn thân tụ về, đau đớn
khôn xiết, nhưng đó là chỗ mà người đời cho là món ăn đặc biệt. Thế rồi, nó liền
bị người cắt đứt đôi chân. Lại tiếp tục đun nấu cho đến khi toàn thân ngỗng đều
chín tới.
Thử tưởng tượng
như việc này mà xảy ra với chúng ta hoặc người thân của chúng ta thì quả là một
cực hình không sao tưởng tượng nổi! Vậy mà có người lại nỡ làm như vậy với con
vật chỉ vì một miếng ăn ngon. Thật tàn ác biết bao!
Còn khi muốn
ăn món dê, thì ông bắt trói con dê treo trên đầu cây cột sau bếp. Rồi dùng dao
đâm xuyên ngực, xương sườn của con dê, sau đó mới moi lấy trái tim dê đem đi nấu
nướng. Con dê đau đớn kêu la thảm thiết! Tiếng kêu của nó nghe rất sầu não, đôi
mắt ngoái nhìn quanh quất như tìm vị cứu tinh, hai chân lay động như muốn vượt
khỏi xích xiềng.
Thế rồi, sau
thời gian thụ hưởng như thế, thân của vị Tri huyện kia bỗng sưng phù lên, đầy mụn
nhọt độc, chạy chữa thế nào cũng không hết, rên la đau đớn suốt ngày. Và tri
huyện bị quả báo hiện tiền kia, mang chứng bệnh thống khổ hành hạ rất lâu mới
chết.
NGƯỜI LÀM ÁC
PHẢI BỊ CHẾT THÊ THẢM
Đời Thanh,
niên hiệu Ung Chính, tại huyện Quỳ Hưng, tỉnh Triết Giang có người họ Ngụy thường
theo nghiệp săn bắn. Người này dùng súng bắn chim thú và các loài ếch, nhái,
rùa... rất giỏi, chuyên pha thuốc độc để giết cá, phá hủy tổ chim, sát sinh hại
vật vô số kể, nghiệp ác của hắn thật không kể xiết.
Mọi người
chung quanh thấy thế tìm đủ mọi cách khuyên nhủ, còn đưa ra những việc về nhân
quả báo ứng, mong rằng ông Ngụy biết sợ hãi hối hận mà giảm bớt việc sát sinh.
Nhưng ông Ngụy không những chẳng nghe lời khuyên bảo mà còn cười chê những lời ấy
là vô căn cứ.
Càng về sau,
ông ta tạo tội càng nhiều. Nhưng chẳng bao lâu, trên người ông mọc lên nhiều mụn
nhọt độc, khắp thân phồng lên vô số bọc nước. Trong mỗi mụt nước có chỗ cứng
như một viên sắt tròn. Tiếp đó da dẻ bị cháy sém, bắp thịt lở loét, ung mủ rồi
dần dần thối rửa. Ông nằm trên giường bị bệnh khổ hoành hành, đau đớn kêu la
không sao kể xiết. Căn bệnh kỳ lạ ấy hành hạ ông cho đến chết.
Sau khi ông
Ngụy chết, bỗng đâu có vô số loài vật như cá, ếch, rùa, chim, lớp bò, lớp bay
vào trong phòng mổ xé thi thể của ông mà ăn.
Người vợ của
ông thấy thế buồn thương vô hạn. Song, nghĩ đến chồng mình đã giết hại biết bao
chúng sinh, nên ngày nay phải bị nghiệp báo như thế. Bà không dám làm hại chúng
nữa. Chỉ trong chốc lát, thi thể ông Ngụy đã bị các con vật ăn hết sạch, chỉ
còn trơ lại một bộ xương trắng.
Ông Ngụy đã
bị chết thê thảm lại thêm quả báo xấu là không có con để nối dõi phụng thờ. Thật
là một việc đáng cho chúng ta suy xét mà ngăn ngừa tâm ác đối với loài vật.
CÁ LƯƠN TRẢ
THÙ
Có người họ
Lục ở Quý Châu, đã hơn 60 tuổi, rất thích ăn lươn. Ông thích đến nỗi mỗi bữa
cơm hằng ngày nhất định phải có món lươn hầm thì mới chịu ăn và ăn rất ngon. Thật
chua xót thay, để đổi lấy sự ngon miệng cho ông mà biết bao nhiêu con lươn đã bị
sát hại.
Có một hôm,
ông đến chợ mua lươn. Ông đòi chọn những con mập lớn. Bấy giờ, người bán lươn mới
nhường cho ông tự chọn lấy. Ông Lục liền xắn tay áo thò vào chum mò bắt lươn,
nào ngờ bầy lươn hè nhau cắn chặt vào cánh tay ông. Bị cắn đau, thêm phần hoảng
sợ, nên sắc mặt ông tái xanh, té xỉu ngay xuống đất. Nhưng bầy lươn vẫn không
chịu nhả ra, chụm thành một xâu đeo lủng lẳng trên tay ông.
Lúc ấy, người
trong chợ vây quanh đứng nhìn rất đông. Con ông hay tin liền chạy đến, nhờ mọi
người phụ khiêng ông về nhà. Trước tình cảnh ấy, người nhà của ông đành phải
dùng dao cắt đứt mấy con lươn. Song, phần đuôi lươn thì rơi xuống, mà đầu lươn
vẫn không chịu nhả rời cánh tay ông. Không biết trải qua thời gian bao lâu,
chúng nó mới chịu nhả ra. Nhưng hỡi ôi! Trên cánh tay ông, chỗ bị lươn cắn đã
không còn một chút thịt. Ông họ Lục rên la hồi lâu rồi tắt thở!
BẮT ẾCH BỊ
QUẢ BÁO
Năm Đạo
Quang thứ 16 (1836), ở Tô Châu có vị quan ra cáo thị nghiêm cấm việc bắt ếch.
Trong vùng
có một nông dân tên Trương A Hỷ, vốn sinh sống bằng nghề bắt ếch, nên y vẫn lén
lút bắt ếch đem bán. A Hỷ là người quê mùa ngu dốt, lại thêm bản tính hung bạo,
ngang bướng. Có người thấy hắn làm nghề bị cấm nên khuyên nhủ: “Ếch là loài động
vật bảo vệ cây nông nghiệp, rất có ích. Quan phủ đã dán cáo thị nghiêm cấm
không cho bắt ếch, ông nên đổi nghề đi, còn có rất nhiều cách để sinh sống
không phạm pháp, lại cũng không tổn hại lòng từ bi. Tội gì phải lén lút khổ sở
như thế?”
Mặc dù được
nhiều người thương tình khuyên bảo, nhưng A Hỷ vẫn không đổi nghề.
Một bữa nọ,
sau trận mưa lớn, nước sông dâng lên cao, A Hỷ đến bờ sông bắt ếch. Vì vô ý nên
trượt chân té xuống sông bị chết đuối. Hai ngày sau, thi thể hắn nổi phình lên
mặt nước, có nhiều con ếch xanh bu trên thây chết tranh nhau cắn rỉa thịt. Cư
dân ở gần thấy vậy rủ nhau đến xem rất đông. Tất cả đều sợ hãi mà bảo nhau rằng:
“Có lẽ đây là quả báo hiện tiền do việc bắt giết ếch của hắn.”
Cứ tưởng tượng
lại hình ảnh khi hắn bắt ếch sống chặt đầu rồi lột da, ếch kia oằn oại lâu lắm
mới chết. Sự đau đớn của những con vật ấy thật là vô kể. Nếu chúng ta là những
con ếch ấy thì sự đau đớn về thân xác cũng như niềm oán hận trong lòng sẽ sâu đậm
lắm, cho nên đối với việc ếch trả thù như thế cũng là lẽ đương nhiên. Song nhìn
thấy người vì sát sinh hại vật, thương tổn lòng từ bi mà bị quả báo đến thế
kia, thì chúng ta cũng không khỏi thượng xét lại mình mà dè dặt không nên để
cho ba nghiệp tạo ác.
CỘNG NGHIỆP
SÁT SANH
Cư dân sống
quanh vùng Thái Hồ, thuộc tỉnh Triết Giang hầu hết đều sống bằng nghề lưới
chim, bắt cá. Cứ thế, cha truyền con nối, hết đời này đến đời khác, mọi người đều
quen với nghề nghiệp ấy và không hề nghĩ là mình đang sống trên sự khổ đau của
loài vật.
Trong vùng ấy,
riêng có gia đình ông Trần Văn Bảo lại thích làm việc lành. Mỗi khi thấy ai lưới
chim, bắt cá, thấy mình đủ khả năng cứu giúp thì gia đình ông liền xuất tiền
mua lại rồi đem phóng sinh, lại còn ân cần khuyên nhủ mọi người cùng nhau làm
việc từ thiện. Ông thường nói rằng: “Chỉ một việc sát sinh đã làm thương tổn
lòng từ bi, mất phước đức, giảm tuổi thọ, lại còn bị báo ứng rất đáng sợ, gần
nhất là ngay trong đời này, xa nữa là trong nhiều đời sau.”
Chuyện kể lại
như sau: Đêm hôm ấy, có một người dân trong vùng đang trên đường ra chợ, chợt
thấy có hai con quỷ, trong tay cầm rất nhiều lá cờ, vừa đi vừa nói với nhau:
“Trừ gia đình ông Trần Văn Bảo ra, vì những người ấy thương người cứu vật, được
miễn khỏi cắm cờ ngay nhà của họ, còn lại ta và ngươi cứ theo thứ tự cắm mỗi
nhà một lá cờ.”
Chỉ một thời
gian ngắn sau đó, cả vùng ngư phủ đều bị bệnh dịch truyền nhiễm, có hơn 300 gia
đình do bị bệnh dịch mà chết. Riêng gia đình ông Trần Văn Bảo không một ai bị bệnh
cả. Cả đời ông Bảo làm việc thiện, lúc về già vẫn còn mạnh khỏe, sống rất thọ.
Khi từ giã cõi đời, ông ra đi thật an nhiên tự tại.
ẾCH ĐÒI MẠNG
Năm Dân Quốc
thứ nhất (1912), ở huyện Vô Vi thuộc tỉnh An Huy có một người thợ hớt tóc. Những
bữa cơm hằng ngày của ông không bao giờ thiếu món thịt ếch. Vì thích ăn món thịt
ếch mà ông đã giết không biết bao nhiêu con ếch vô tội.
Có một đêm,
khi chuẩn bị lên giường ngủ, ông chợt thấy ếch nằm đầy giường, trên gối, mền
cho đến trên cổ áo, tay áo của ông đều có ếch bu đông nghẹt. Ông ngồi dậy, bước
ra ngoài nhóm bếp lửa đun một nồi nước sôi, bắt hết những con ếch ấy bỏ vào nồi
nước sôi cho chết. Xong rồi, tiếp tục leo lên giường định ngủ. Nhưng lại thấy ếch
cũng đầy giường như khi nãy, còn nhiều hơn nữa là khác! Ông lại tìm cách đánh
xua đuổi, bắt ếch bỏ ra ngoài, nhưng không bắt xuể. Suốt đêm như vậy, hình ảnh
những con ếch khiến ông không hề chợp mắt được.
Hôm sau, ông
kể lại cho những người hàng xóm nghe sự việc lạ lùng này. Ngay khi ông đang thuật
chuyện, bỗng la lên hoảng hốt: “Kìa, chúng nó lại đến, nhảy bám trên cổ tôi.”
Nói xong, dùng tay phủi lia lịa. Kỳ lạ là mọi người chung quanh lại không hề
nhìn thấy ếch!
Chốc lát
sau, ông lại la lên: “Kìa, ếch bu đầy trên đầu, trên mặt, trên mí mắt của tôi rồi!”
Ông vừa phủi vừa chạy đi tìm dao cạo, cạo sạch cả lông mày, cả tóc trên đầu, mà
vẫn chưa yên, cứ la ếch bu hoài!
Thật ra, nào
có ếch bám trên đầu người ấy! Đây chỉ là ảo giác do ông giết hại quá nhiều ếch
mà sinh ra đó thôi. Mọi người thấy ông không còn tự chủ, la sảng như vậy mãi, đều
bảo nhau: “Chắc ông này bị điên rồi.”
Từ đó, ngày
ngày ông thường la khóc vang trời, ngày đêm hốt hoảng, không một lúc nào tỉnh
táo. Gia đình ông vì thế cũng rối bời, bất an không dứt. Chứng bệnh kỳ lạ ấy
hành hạ ông suốt 6 năm trời rồi chết.
SÁT SINH BỊ
NƯỚC CUỐN
Cư dân ở
vùng Giang Tô, Nhuận Châu chuyên nghề đánh cá sinh nhai. Họ sống bằng nghề sát
sinh như thế đã nhiều đời, tập nhiễm thành tính ác. Mỗi ngày, mọi người đều bắt
ếch, bắt ốc, chài cá làm thức ăn, người lớn dạy trẻ em biết cầm dao để chặn bắt
ếch. Người dân vùng này lấy sát sinh làm sở trường, đồng thời nuôi dưỡng, dạy dỗ
con cháu như thế.
Nhưng lạ một
điều là trong vùng lại có một bà lão họ Khổng, tính thương người thương vật, tuổi
đã 70 vẫn còn lao nhọc dệt vải kiếm sống qua ngày và dành tiền mua vật phóng
sinh. Bà thường khuyên mọi người giảm bớt việc sát sinh hại vật, đem hết khả
năng của mình cứu loài vật được đến đâu hay đến đó. Bà nói: “Hãy tránh giết
loài trùng, kiến, ốc, nhái... Chớ cho đó là việc thiện nhỏ. Mọi người cần phải
có tâm từ bi, thương xót mạng sống loài vật chung quanh. Nếu người trong thôn
này cứ mãi sát sinh hại vật, thì mai sau ắt không tránh khỏi quả báo nặng nề.”
Đời vua Càn
Long, sáng ngày mùng 9 tháng 9 năm Ất Dậu, bờ đê sông Hoàng Hà bị sạt lở, nước
tuôn tràn vào những vùng lân cận, gây tai họa khủng khiếp, trong đó có thành
Nhuận Châu. Cả thành Nhuận Châu đều bị chìm trong biển nước. Nhà cửa, ruộng vườn,
trâu bò... vô số kể đều chịu chung số phận nước cuốn trôi. Người, vật chết nổi
phình lên giữa biển nước mêng mông, không biết đâu là bờ.
Trước đó một
ngày, người trong thôn nhìn thấy Khổng bà bồng đứa cháu nhỏ trong nhà đi đến
ngôi chùa trên núi cao, vào điện lễ Phật rồi xin ở lại qua đêm. Nhờ vậy, bà
thoát được tai nạn hãi hùng này. Phải chăng, chính nhờ lòng nhân từ, yêu thương
loài vật của bà Khổng đã giúp bà được an lành không phải chịu chung quả báo khủng
khiếp của cả vùng?
CON BA BA
ĐÒI MẠNG
Miền nam tỉnh
Giang Tô có một vị phú ông, tiền của nhiều đến ức vạn, cuộc sống xa hoa, lại
thích ăn món ngon vật lạ. Một hôm, nhà ông chuẩn bị tổ chức yến tiệc linh đình,
người đầu bếp đi chợ mua về một con ba ba lớn. Lúc chuẩn bị giết con ba ba ấy,
nhìn thấy con vật chảy nước mắt, người đầu bếp không nỡ xuống tay, liền bẩm với
chủ nhân hết sự tình và xin thả con vật. Phú ông chẳng những không thương xót,
trái lại nổi giận tự cầm dao chặt đứt đầu con ba ba. Lưỡi dao sắc bén, nên chỉ
một nhát là đầu con ba ba đứt lìa khỏi cổ. Nhưng việc xảy ra ngoài dự đoán đến
không ngờ. Là cái đầu con ba ba lại nhảy lên bám chặt trên sàn nhà bếp. Ông và
người đầu bếp đều kinh dị, nhưng vì đang chuẩn bị tiệc lớn nên cũng bỏ qua, cứ
để đầu con ba ba trên sàn nhà như vậy, định sau rồi hãy tính.
Khi thịt của
con vật chế biến thành thức ăn thơm ngon, được chia thành hai dĩa dọn lên bàn
tiệc. Ai nấy nghe mùi thơm đều thích chí đồng ăn Song đến khi phú ông gắp đũa
thịt thứ nhất ăn rồi, lập tức nhức đầu, hoa mắt, xây xẩm và hôn mê bất tỉnh.
Ông lại thấy cái đầu ba ba trên sàn nhà nhảy tới, nhảy lui trước mặt ông. Người
nhà đưa ông vào phòng nghỉ, ông cũng lại thấy giường, nệm, màn, mùng ... nơi
nào cũng có cái đầu của con ba ba. Ông còn lải nhải một mình: “Ở đâu mà có đến
ngàn vạn đầu con ba ba cắn vào mình mẩy, tay chân của tôi, làm cho đau nhức đến
tận xương tủy.” Ông lải nhải như thế suốt ba ngày đêm, cuối cùng chịu không nổi
sự đau đớn nên tắt thở mà chết.
QUẢ BÁO HIỆN
TIỀN
Trong quyển
bút ký của tiên sinh Ký Hiểu Lam có ghi câu chuyện: “Quê ông có một người họ Cổ,
tướng mạo xấu xí, thân hình to lớn, sống bằng nghề mổ giết trâu. Vợ con của ông
cũng rất giỏi nghề này. Cách sử dụng dao của bà cũng nhanh nhẹn như ông không
khác. Ngày qua tháng lại, cuộc sống của gia đình ông được sung túc ấm no. Nhưng
ngậm ngùi thay, sự êm ấm, no say của họ được đổi bằng nỗi bất hạnh của những
con vật bị giết.
Thời gian
sau, mắt ông Cổ bị đau nhức nhiều, tìm hết thầy này thầy nọ chữa trị, tiền của
hao tổn mà vẫn không hết, lần hồi ông không nhìn thấy được gì nữa. Đôi mắt ông
đã mù.
Riêng phần vợ
ông lại bị chứng bệnh lở loét hôi dơ. Máu mủ ung đầy, chảy ra tanh hôi, quần áo
bị dính chặt vào người, hễ động đậy là đau nhức không chịu nổi. Suốt ngày rên
la trên giường không nghỉ, lảm nhảm nói: “Đây là do lúc trước ta cắt cổ và lột
da trâu, chúng đau đớn thế nào thì nay ta phải chịu gấp đôi như vậy. Ôi! Biết
bao giờ mới khỏi cực hình này.” Nói xong, rên la liên tục suốt ngày đêm. Mọi
người đến thăm, thấy tình cảnh ấy cũng thương tình, nhưng không biết làm sao!
Thế rồi, sau
thời gian bị hành hạ vì chứng bệnh quái ác, bà nhắm mắt lìa đời trong đau đớn,
hãi hùng.
Việc này đã
được cô con dâu nhà họ Thẩm chính mắt trông thấy và kể lại.
Ôi! Nghiệp
giết hại loài vật tội báo rất nặng. Xét như con trâu thật có công rất lớn đối với
con người, đã giúp chúng ta biết bao việc nặng nề, vì sao lại giết trâu ăn thịt?
Quả báo hiện tiền, nhân quả không sai chạy, rất mong mọi người hãy để tâm suy
nghĩ việc này thật thấu đáo.
CẮM ĐẦU VÀO
NỒI VÌ BẠO SÁT
Có một người
làm nghề đồ tể ở huyện Lâm Thanh – Đông Sơn. Một hôm, người ấy đem tiền mua một
con trâu. Con trâu linh tính tự biết mình sẽ bị giết chết nên đứng hoài không
chịu đi. Người kia nắm dây mũi kéo mạnh rồi đánh con trâu túi bụi, con trâu cố
né đòn roi và nhất định không đi, cho đến khi sức gượng yếu dần, thế rồi để mặc
cho người đồ tể kia kéo lôi quát tháo.
Khi con trâu
đi ngang trước cửa nhà phú hộ, nhìn thấy người chủ của nhà ấy, bỗng nhiên hai
chân quỳ xuống, nước mắt chảy đầm đìa, như muốn xin người kia cứu mạng. Ông phú
hộ thấy tình cảnh như thế, cảm động vô cùng, hỏi người đồ tể đã mua con trâu
này với giá bao nhiêu? Đáp: Tám vạn quan tiền. Ông phú hộ ngỏ ý mua lại con
trâu ấy để cứu mạng nó. Nhưng người đồ tể vì giận con trâu quá ương ngạnh, trì
trệ không đi, làm ông mệt nhọc, nên nhất định không bán. Phú ông cứ năn nỉ mãi,
song người ấy một mực từ chối, còn nói: “Bởi vì con trâu này đáng ghét, nên tôi
nhất định đem nó về làm thịt mới hả giận của tôi.” Con trâu nghe lời người đồ tể
nói, biết không còn hy vọng nào sống sót, liền từ từ bước đi theo ông.
Người đồ tể
giết trâu xong, đem thịt trâu bỏ vào trong nồi chưng nấu, rồi về phòng ngủ một
giấc. Đến 3 giờ sáng ngày hôm sau mới đi xuống bếp nếm thử vị mặn lạt của nồi
thịt trâu, nhưng đi lâu rồi mà chưa trở lại phòng ngủ tiếp. Vợ người đồ tể thấy
kỳ lạ, nên đi tìm. Vừa bước xuống nhà sau, bà ấy liền hoảng kinh hồn vía. Trời
ơi! Nửa phần trên của chồng bà đã đâm đầu vào trong chảo, bị chưng nấu chung với
nồi thịt trâu.
Thử nghĩ
xem! Tất cả loài động vật cũng như con người đều tham sống sợ chết, thấy con
trâu sợ hãi khi biết mình sẽ bị giết, đồ tể đã không có lòng thương xót, trở lại
còn thêm lòng sân hận, ắt là nghiệp sát của người đồ tể này quá nhiều. Khi ấy,
nỗi oán hận trong lòng của con trâu, rõ ràng thêm sâu. Hai nỗi sân hận đồng cảm
với nhau, nên đồng chung số phận bị chưng nấu.
GIẾT HEO BỊ
QUẢ BÁO THẢM KHỐC
Tại trấn Bà
Đầu, huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy, có người tên là Tuyên Tứ, hành nghề mổ heo đã
hơn 20 năm. Ông tạo được 3 căn nhà: một căn để ở, còn hai căn kia thì cho người
thuê, cộng thêm 200 mẫu ruộng.
Cứ vào lúc 3
giờ sáng mỗi ngày, Tuyên Tứ dậy nấu nước làm heo, vợ ông cũng thức dậy phụ chồng.
Vừa ra ngoài nhà sau, người vợ thấy trong chuồng heo có dáng 2 người đàn bà nằm.
Bà dụi mắt nhìn kỹ mấy lần, cũng vẫn thấy như thế. Lúc ấy, sợ quá bà liền đi
tìm chồng thuật lại sự việc, còn nói thêm một câu: “Thôi mình hãy tìm nghề khác
đi.” Ông không tin còn cười nhạo bà.
Người vợ lấy
con dao mổ heo ném vào trong cầu tiêu. Nên hôm ấy, Tuyên Tứ không thể giết heo,
nhưng vẫn không hề có tâm đổi nghề.
Hôm sau, người
vợ mời hết thảy gia tộc đến thưa là nếu Tuyên Tứ không đổi nghề thì bà sẽ chia
tay. Tuyên Tứ chấp nhận chia tay, chứ không bỏ nghề.
Thế rồi, hai
người chia đôi gia sản. Người vợ mang đứa con ra riêng nuôi dưỡng. Chỉ thời
gian sau, đứa con mà hai vợ chồng yêu thương lại qua đời. Đến đây, Tuyên Tứ mới
có một chút niềm hối hận. Vì buồn việc đứa con mất sớm, nên Tuyên Tứ đem tiền của
dành dụm nướng vào trong cờ bạc. Cuối cùng, tất cả gia sản đều tiêu tan như mây
khói. Ông lại mua mấy con heo nuôi để xây dựng lại sự nghiệp nhưng đều thất bại
cả. Một tháng sau, miệng mũi của ông lúc nào cũng tuôn máu mủ, đau đớn vô cùng,
nằm kêu la suốt ngày đêm như bị người thọc dao vào yết hầu vậy. Mãi một năm
sau, ông mới chết.
GIẾT DÊ BIẾN
THÀNH DÊ
Tại huyện
Thường Thục, tỉnh Giang Tô, có người họ Tiết tên Khánh Quan, chuyên sinh sống bằng
nghề giết dê, nhà rất giàu có sung túc. Hàng ngày, cứ vào lúc 3 giờ sáng là ông
đã thức dậy nấu nước sôi để làm thịt dê. Mặc cho những con dê hoảng sợ, kêu la
thống thiết, ông vẫn thản nhiên cầm dao đâm tới. Nhiều người thấy nghe cảnh tượng
đau lòng đó, không nhẫn tâm nhìn thêm nữa. Bạn bè thân tình cũng hết lời khuyên
ông đổi nghề, nhưng ông nào có nghe. Trải qua 10 năm tạo nghiệp, số dê đã bị
ông giết không biết là bao nhiêu nữa.
Làm ác mà
không thấy hối hận, nên quả báo xấu cuối cùng cũng đến. Khi Tiết Khánh Quan hơn
40 tuổi, bị một chứng bệnh kỳ quái, tìm thầy chữa trị biết bao nhưng vẫn không
thuyên giảm, đến nỗi gia tài hao mòn, lần hồi kiệt quệ mà bệnh không thuyên giảm,
lại còn sinh thêm biến chứng.
Mũi của ông
tự nhiên dài ra, rồi mặt từ từ biến thành mặt dê, rất đáng sợ. Ông vô cùng khổ
sở, trốn tránh tất cả mọi người, ngày đêm hoang mang sầu thảm, lo không biết
còn điều gì xảy ra nữa đây! Những đêm khuya lăn lộn vì chứng bệnh hoành hành, bấy
giờ ông mới nghĩ đến lý nghiệp quả báo ứng, nên khuyên bảo gia đình bỏ hết đồ
nghề giết dê và đổi nghề sinh sống.
Năm sau, ông
ta mang 300 lượng vàng cùng với người láng giềng đi đến tỉnh An Huy mua gạo về
bán. Trong lúc đi đường, vì vô ý nên ông bị té xuống sông chết. Người nhà cố
tìm vớt thi hài nhưng không thấy.
MẤY LỜI TÂM
HUYẾT
Thuyết pháp
giảng kinh, viết sách giáo lý nhà Phật, hoặc phát hành kinh sách, băng đĩa Phật
pháp, biếu tặng cho mọi người, giúp cho họ được sớm hiểu đạo lý, thay đổi nếp sống
tốt đẹp hơn, được như thế là hạnh phúc không gì bằng, đó gọi là pháp thí. Nếu
không đủ điều kiện làm những việc ấy thì có thể thỉnh một số kinh sách, băng,
đĩa, rồi chịu khó đem đến từng nhà cho mọi người mượn xem, hoặc đọc cho người
khác nghe, nhất là cho những người không biết chữ. Việc làm này thật quý giá vô
biên, đây cũng gọi là pháp thí. Chính đức Phật đã dạy: “Trong các sự bố thí,
pháp thí có công đức lớn nhất.”
Đời người
trôi qua trong thoáng chốc, đường lợi danh dù rạng rỡ đến đâu cũng không giúp
được gì khi nhắm mắt xuôi tay. Chỉ mỗi một việc tu tập theo Chánh pháp mới có
thể giúp chúng ta được an vui trong hiện tại, thanh thản lúc qua đời. Vì thế,
tích lũy vật chất của cải nhiều đến đâu cũng không có ý nghĩa bằng việc rộng
truyền Chánh pháp giúp cho mọi người đều được phần lợi ích. Đó là việc làm
thiêng liêng và cao cả nhất mà tất cả chúng ta đều nên góp sức. Việc truyền bá
Chánh pháp luôn cần đến sự chung lưng góp sức của tất cả chúng ta.
Khi làm việc
hoằng pháp cũng không nên mong cầu công đức, hãy nghĩ nhiều đến những người
quanh ta đang lầm đường lạc lối, đắm chìm trong tội lỗi không lối thoát. Hãy
mau giúp đỡ, cứu vớt họ, cảnh tỉnh họ để cùng quay về chân lý, tìm ra lẽ sống
an vui. Được như thế là chính ta đã làm lợi ích cho Phật pháp rồi vậy.
Bất cứ ai
trong chúng ta, nếu có điều kiện đều nên phát tâm góp sức vào việc phát hành
kinh sách, sang băng, đĩa cho mọi người xem. Được vậy, cuộc sống hiện thời chắc
chắn được an vui, mà con đường tương lai cũng sẽ ngày thêm tươi sáng! Biếu tặng
cho người thân một số tiền nhỏ thì lòng ta không vui, nhưng không đủ sức biếu tặng
nhiều hơn nữa! Chỉ có một cách là biếu tặng các loại kinh sách, băng đĩa giảng
truyền Phật pháp, hướng dẫn việc tu tập để xây dựng đời sống thanh cao, thì dù
chỉ một quyển sách, một cuốn băng... giá chỉ mấy ngàn nhưng quý giá hơn cả tiền
trăm bạc triệu. Mấy lời tâm huyết, mong các vị thiện hữu cùng suy xét!
[1] Kinh Phạm Võng: (Nhược Phật tử dĩ từ tâm cố
hành phóng sanh nghiệp. Nhất thiết nam tử thị ngã phụ ,nhất thiết nữ nhân thị
ngã mẫu. Ngã sanh sanh vô bất tùng chi thọ sanh. Cố lục đạo chúng sanh giai thị
ngã phụ mẫu. Nhi sát nhi thực giả, tức sát ngã phụ mẫu, diệc sát ngã cố thân.
Nhất thiết địa thuỷ thị ngã tiên thân, nhất thiết hỏa phong thị ngã bản thể. Cố
thường hành phóng sanh, sanh sanh thọ sanh thường trụ chi pháp. Giáo nhân phóng
sanh, nhược kiến thế nhân sát súc sanh thời, ưng phương tiện cứu hộ, giải kỳ khổ
nạn.)
[2] Đại sư Ấn Quang (1862-1940): Tổ sư đời thứ 13
của Liên tông, tức Tịnh độ tông.
[3] Phật diệt
độ hậu quan liệm táng tống kinh: (Đương tuân từ nhân. Phổ huệ ân cập quần sanh.
Thị thiên hạ quần sanh thân mạng nhược kỷ thân mạng. Từ tế bi mẫn, thứ dĩ an bỉ
đạo hỷ khai hoá, hộ bỉ nhược thân, nhuận đãi thảo mộc, vô hư cơ tuyệt dã.)
[4] Ba đường ác: tức ba cảnh giới địa ngục, ngạ
quỷ và súc sinh. Chúng sinh do tạo nhiều ác nghiệp nên phải sinh vào trong 3 cảnh
giới này.
[5] Kinh Kim Quang Minh, phẩm thứ 16, Lưu thủy
trưởng giả tử: (Nhĩ thời kỳ địa thốt đại chấn động, thời thập thiên ngư, đồng
nhật mạng chung, ký mạng chung dĩ, sanh Đao-lợi thiên.”
[6] Phật
thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh: (Phật tâm giả, đại từ bi tâm thị. Dĩ vô
duyên từ phổ nhiếp chúng sanh.)
[7] Đại Bát
Niết-bàn kinh, quyển 32: (Đại từ, đại bi danh vi Phật tánh.)
[8] Kinh Đại
Bát Niết-bàn: (Từ tức Như Lai, Như Lai tức từ.)
[9] Đại Trí
độ luận, quyển 22: (Chư dư tội trung, sát tội tối trọng. Chư công đức trung, bất
sát đệ nhất.)
[10] Kinh Phạm
Võng: (Bồ tát ưng sanh Phật tánh, hiếu thuận từ bi, thường trợ nhất thiết nhân
sanh phước sanh lạc.)
[11] Đại Trí
độ luận: (Đại từ dữ nhất thiết chúng sinh lạc, đại bi bạt nhứt thiết chúng sinh
khổ.)
[12] Tức Đại
sư Trí Khải, sinh năm 538, mất năm 597.
[13] Xem
thêm chuyện Đào ao phóng sinh ở phần sau.
[14] Người
tu Tịnh độ tùy theo công đức tu tập mà khi vãng sinh về cõi Cực Lạc chia ra
thành chín phẩm (cửu phẩm), ba phẩm thuộc về bậc hạ, ba phẩm thuộc về bậc trung
và ba phẩm thuộc về bậc thượng. Thượng phẩm là những người có công đức cao nhất,
được chia ra Thượng phẩm hạ sinh, Thượng phẩm trung sinh và Thượng phẩm thượng
sinh.
[15] Chỉ các
loại hoa quả, ngũ cốc.
[16] Trong
thực tế, điều này vẫn thường gặp khi chúng ta phóng sinh. Do những chim, cá mà
chúng ta mua thả có khi đã bị giam hãm quá nhiều ngày, trong điều kiện lồng, chậu
vô cùng chật chội, thiếu dưỡng khí, chen chúc lẫn nhau, nên đến khi được trả về
với tự nhiên thì đã có một số vì không chịu đựng nổi đã phải tử vong. Nhưng rõ
ràng là điều này không liên quan gì đến tâm niệm tốt đẹp của người phóng sinh.
[17] Kinh Đại
Bát Niết-bàn, quyển 4, phẩm Như Lai tánh: (Phù thực nhục giả, đoạn đại từ chủng.)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét